- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "BÀ LÝ THỊ MỘNG T TRANH CHẤP ĐẤT VỚI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN"
- Tòa quyết gì? 1/ Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Mộng T đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất L1 nền số 01 diện tích 128m² tại Cụm D - Xã P, Thành phố R cho bà Lý Thị Mộng T là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Lý Thị Mộng T.
- Căn cứ chính? Luật tố tụng hành chính; Luật phá sản; Điều 117 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2025/DS-ST Ngày: 27 - 11 - 2025 V/v: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Mỹ
2. Bà Đoàn Thị Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Mùi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 132/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 74/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 9 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số: 09/2025/QĐST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2025, và Quyết định tạm ngừng phiên toà số: 09/2025/QĐST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2025, Thông báo mở phiên toà số 188/2025/TB-TA ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lý Thị Mộng T, sinh năm 1990 (có mặt)
Địa chỉ: Số G T, phường R, tỉnh An Giang
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lý Thị Mộng T là Luật sư Phạm Anh V – sinh năm 1975 – Văn phòng luật sư Phạm Anh V thuộc Đoàn luật sư tỉnh K (có mặt)
Địa chỉ: Số C T, phường R, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Ban quản lý dự án phường V (Trước đây là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố R)
Địa chỉ: Tổ B N, phường V, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Văn Đ – chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Bá V1 – Chức vụ: Phó giám đốc (theo văn bản uỷ quyền số 05 ngày 26/11/2025) (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân phường V.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Việt T1 – Chủ tịch UBND phường V.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Bá V1, sinh năm 1975 – Chức vụ: Phó giám đốc Ban quản lý dự án phường V (theo văn bản uỷ quyền số 81 ngày 22/9/2025) (có mặt)
Địa chỉ: Tổ B N, phường V, tỉnh An Giang.
3.2. Ông Nguyễn Văn Hoàng T2, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ: Số G T, phường R, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn bà Lý Thị Mộng T và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T trình bày:
Vào ngày 21/9/2016, bà T có ký hợp đồng số 01/HĐ-BQL giao quyền sử dụng đất tại cụm dân cư Kênh C - xã P, thành phố R với Ban Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Thành Phố R để mua 01 nền nhà gồm Lô đất L1 nền số 01 diện tích 128m² toạ lạc tại tại Cụm D Xã P - Xã P với giá là 64.600.000 đồng.
- Phương thức thanh toán chia thành 02 đợt:
+ Đợt 1: Trong vòng 5 ngày sau khi ký hợp đồng, phải nộp 50% giá giao quyền sử dụng đất vào kho bạc là 32.300.000 đồng và lệ phí đo vẽ và lệ phí thẩm định là 368.000 đồng.
+ Đợt 2: Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng phải nộp 50% giá giao quyền sử dụng đất là 32.300.000 đồng.
Sau khi ký kết hợp đồng xong thì Ban Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Thành Phố R có gởi cho bà T thông báo nộp tiền đợt 1 và ngày 21/9/2016 bà T đã cầm thông báo này và đến kho bạc Nhà nước K nộp số tiền 01 lô là 32.300.000 đồng. Đồng thời Ban Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Thành Phố R cũng đã giao đất cho bà T sử dụng và bà T đã cất trại gà chăn nuôi ổn định đến ngày hôm nay.
Đối với số tiền thanh toán đợt 2 thì đến thời hạn đóng vào ngày thứ 28 theo hợp đồng, bà T có gặp anh T3 là người trực tiếp giao dịch hợp đồng với bà T, thì bà T đã trực tiếp đến Ban quản lý để yêu cầu đưa thông báo để bà T đến kho bạc nhà nước nộp số tiền đợt 2, bà T đã đến Ban quản lý rất nhiền lần để nộp số tiền còn lại để hoàn tất việc cấp chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T nhưng cán bộ ban quản lý nói với bà T là chờ thông báo của Ban quản lý để đi nộp tiền còn lại nhưng lại được hứa hẹn ra thông báo gởi cho bà T nhưng bà T chờ vẫn không thấy thông báo đâu.
Đến ngày 06 tháng 04 năm 2022, Ban Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Thành Phố R lập biên bản triển khai thông báo hủy hợp đồng giao quyền sử dụng đất số 03/BQL-TNV ngày 04/4/2022 của Ban Quản Lý Các Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Thành Phố R về việc hủy hợp đồng sử dụng đất của bà Lý Thị Mộng T 01 nền nhà gồm L1 nền số 01 diện tích 128m² tại Cụm D Xã P - Xã P.
Bà T xác nhận vào ngày 5/6/2019 Ban quản lý dự án có mời bà lên làm việc về việc nộp tiền đợt 2 và bà có thừa nhận nộp trễ và xin nộp tiền còn lại và tiền lãi theo lãi suất Ngân hàng, bà có ký tên trong biên bản này, đến ngày 18/01/2022, Ban quản lý có mời bà lên làm việc vì chưa nộp tiền đợt 2 và bà có trình bày lý do bà chưa nộp tiền đợt 2 là do vào khoảng tháng 12/2016 bà có liên hệ ban quản lý gặp anh T3 để nộp tiền nhưng anh T3 thông báo khi nào Ban quản lý thông báo yêu cầu nộp tiền thì liên hệ với bà và sau này bà có liên hệ nhiều lần với anh T3 thì anh T3 cũng trả lời như vậy và vào ngày 5/6/2019 thì ban quản lý có mời bà lên làm việc và bà có nguyện vọng đóng tiền còn lại và tiền lãi theo lãi suất ngân hàng và bà có ký tên trong biên bản ngày 18/01/2022, lý do bà liên hệ anh T3 là vì lần đầu đóng tiền do ông T3 giao thông báo cho bà đi đóng, lần đầu bà nộp tiền tại kho bạc Nhà nước, bà cầm thông báo của Ban quản lý đi nộp.
Tại phiên toà hôm nay bà T yêu cầu:
- Hủy thông báo số 03/BQL-TNV ngày 04/4/2022 của Ban Quản Lý Các Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Thành Phố R (Nay là Ban quản lý dự án phường V) về việc hủy hợp đồng giao sử dụng đất của bà Lý Thị Mộng T, Lô L1 nền số 01 tại Cụm D Xã P - Xã P
- Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng số 01/HĐ-BQL ngày 21/9/2016 giao quyền sử dụng đất L1 nền số 01 diện tích 128m² tại cụm D - Xã P, Thành phố R với giữa bà T với Ban Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Thành Phố R vì gia đình bà T đã cất trại chăn nuôi gà và sinh sống ổn định trên phần đất này. Bà T đồng ý thanh toán số tiền còn lại là 32.300.000đ (Ba mươi hai triệu ba trăm ngàn đồng).
- Bà T xin rút lại yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất L1 nền số 01 diện tích 128m² tại cụm D - Xã P, Thành phố R (Nay là Phường V, Tỉnh An Giang) cho bà T là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà T.
Ông Ngô Bá V2 là người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của UBND phường V trình bày:
Đối với trình bày của nguyên đơn thì giữa nguyên đơn bà Lý Thị Mộng T và Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố R. (Nay là Ban quản lý dự án phường V) có ký hợp đồng số 01/HĐ-BQL giao quyền sử dụng đất tại Cụm D - Xã P, Thành phố R với Ban Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Thành Phố R trực thuộc Ủy Ban nhân dân Thành Phố R, để mua 01 nền nhà gồm Lô đất L1 nền số 01 diện tích 128m² với giá mỗi nền là 64.600.000đồng.
Căn cứ Công văn số 5663/VP-KTCN ngày 08/10/2018 của Văn phòng UBND tỉnh K v/v chủ trương thu tiền một số hộ dân nộp tiền chậm tiền mua nền nhà diện sinh lợi so với hợp đồng tại các cụm dân cư vượt lũ trên địa bàn thành phố R; theo đó Phó Chủ tịch UBND tỉnh M Nhịn chấp thuận chủ trương theo đề xuất của Sở Xây dựng tại Công văn số 2563/SXD-TTQH ngày 01/10/2018 của Sở X. “Tại mục 3. về việc tính thêm lãi suất 0,9% thuộc thẩm quyền của UBND thành phố R, đề nghị thành phố căn cứ vào phương án tài chính được duyệt và các điều khoản trong từng loại hợp đồng mua bán đã ký kết với các hộ dân để xử lý theo quy định", kèm theo Tờ trình số 160/TTr-UBND ngày 17/8/2018 của UBND thành phố R về việc xin chủ trương thu tiền một số hộ dân nộp tiền chậm tiền mua nền nhà diện sinh lợi so với hợp đồng các cụm dân cư vượt lũ trên địa bàn thành phố R.
Đối với bà Lý Thị Mộng T, địa chỉ số G đường T phường V có đăng ký mua một nền nhà sinh lợi tại cụm dân cư vượt lũ kênh Cây Sao theo Hợp đồng ký kết số 01/HĐ-BQL ngày 21/9/2016 với Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố R về việc giao quyền sử dụng đất tại L1 nền số 01, diện tích 128m² với số tiền 64.600.000 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi bốn triệu sáu trăm ngàn đồng).
Phương thức thanh toán (theo khoản 2 Điều 2 của hợp đồng): Lần thứ nhất: trong vòng 05 ngày sau khi ký hợp đồng bên mua phải nộp 50% số tiền là 32.300.000 đồng; lần thứ hai: trong thời gian 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng nộp thêm 50% giá giao quyền sử dụng đất còn lại là 32.300.000 đồng. Nếu qua hạn, bên B (bên mua) không nộp đủ số tiền theo cam kết thì BQL dự án đầu tư xây dựng thành phố R sẽ đơn phương huỷ hợp đồng và người mua không nhận lại tổng số tiền đã nộp trước đó.
Sau khi ký hợp đồng, ngày 21/9/2016 bên mua chỉ nộp 50% số tiền là 32.300.000 đồng và số tiền còn lại đến nay chưa nộp là 32.300.000 đồng tương đương 50% giá giao quyền sử dụng đất.
Căn cứ biên bản làm việc ngày 05/6/2019 của Ban Q, bà T đã thừa nhận chậm nộp tiền mua nên nhà diện sinh lại so với hợp đồng như nêu ở trên, đồng thời đề nghị các cấp lãnh đạo xem xét đông số tiền còn lại cộng thêm lãi suất ngân hàng trong thời gian quá hạn Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố đã báo cáo UBND thành phố sự việc trên (Báo cáo số 20/BC-BQL ngày 09/7/2019).
Ngày 18/01/2022 Ban quản lý tiếp tục làm việc với bà T cụm dân cư kênh C xã P, nội dung xác nhận lại sự việc giống với nội dung liên quan đến Hợp đồng giao đất nền sinh lợi tại Lô L1 nền 01 tại như biên bản làm việc ngày 05/6/2019 và có nguyện vọng xem xét cho đóng số tiền còn lại cộng thêm lãi suất ngân hàng thời gian quá hạn. Ban Q đã báo cáo UBND thành phố sự việc trên (Báo cáo số 09/BC-BQL ngày 25/01/2022).
Thực hiện theo Công văn số 181/VP-NCTH ngày 22/02/2022 của Văn phòng HĐND và UBND thành phố R, về việc thông báo ý kiến của Phó Chủ tịch UBND thành phố B đã chấp thuận theo đề xuất, kiến nghị của Ban Q tại mục II, Báo cáo số 09/BC-BQL ngày 25/01/2022.
Căn cứ Điều 4: Điều khoản chung của hợp đồng "đến hết thời hạn nộp tiền theo điều 2 của hợp đồng mà bên B chưa nộp đủ tiền thì bên A có quyền đơn phương hủy bỏ hợp đồng, số tiền đã nộp sung vào công quỹ nhà nước mà không hoàn trả lại bất kỳ khoản chi phí nào".
Ngày 06/4/2022, tại Hội trường UBND xã P, Ban Q đã triển khai và trao Thông báo số 03/BQL-TNV ngày 04/4/2022 của Ban Q về việc huỷ Hợp đồng giao quyền sử dụng đất của bà Lý Thị Mộng T, lô L1-01 tại Cụm D xã P; số tiền đã nộp đợt 01 là 32.300.000 đồng được sung vào công quỹ nhà nước.
Ông V2 xác nhận bà N không thực hiện việc nộp tiền đúng thời gian theo Hợp đồng là do lỗi cán bộ của Ban quản lý dự án là ông T3 đã không ra thông báo đóng tiền lần 2 cho bà N, ông T3 cũng thôi việc tại ban quản lý dự án, việc bà N nộp tiền thì phải có thông báo của ban quản lý dự án mới đóng tiền được nên lỗi là do cán bộ phụ trách không ra thông báo nộp tiền cho bà N đi đóng, hiện tại Ban quản lý dự án có kiếm thông báo nộp tiền lần hai thì không có trong hồ sơ.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện uỷ quyền của bị đơn và UBND phường V có ý kiến:
Ông V2 xác định Thông báo huỷ Hợp đồng giao quyền sử dụng đất số 03/BQL-TNV, ngày 04/4/2022 của chị Lý Thị Mộng T và số tiền 32.300.000 đồng đã nộp vào ngân sách không được trả lại (sung vào công quỹ nhà nước) là đúng theo qui định đã ký kết hợp đồng. Do bà Lý Thị Mộng T không thực hiện đúng theo hợp đồng nên phía bị đơn không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn. Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn thì Ban quản lý và UBND phường V không có ý kiến gì. Đề nghị HĐXX căn cứ theo hợp đồng để giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Hoàng Tiến trình B:
Ông T thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của bà Lý Thị Mộng T, không bổ sung gì thêm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lý Thị Mộng T là Luật sư Phạm Anh V trình bày: Nhận thấy các bên đều thống nhất với nhau về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Ban quản lý dự án đã giao đất cho bà T sử dụng, hai bên có lập Hợp đồng giao quyền sử dụng đất số 01/BQL-TNV, ngày 21/9/2016 đúng theo trình tự, thủ tục của UBND thành phố R, Ban quản lý đã giao đất cho bà T sử dụng, không ngăn cản việc bà T sử dụng đất, tuy bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán cụ thể bà T chỉ mới thanh toán được ½ nghĩa vụ thanh toán nhưng lỗi hoàn toàn là do phía Ban quản lý, tại phiên toà ban quản lý cũng đã thừa nhận lỗi là của cán bộ Ban quản lý đã không ra thông báo cho bà T đi đóng số tiền còn lại, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T, đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất số Lô đất L1 nền số 01 diện tích 128m² toạ lạc tại Cụm D xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cho bà T được quyền quản lý sử dụng đất thì bà T xin rút lại yêu cầu này nên đề nghị Toà án đình chỉ yêu cầu này, bà T sẽ có nghĩa vụ thanh toán số tiền đợt 2 là 32.300.000 đồng cho Ban quản lý dự án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu huỷ Thông báo số 03/BQL-TNV, ngày 04/4/2022 về việc huỷ Hợp đồng giao quyền sử dụng đất của bà Lý Thị Mộng T, Lô 01-01 tại Cụm D xã P - Xã P. Chấp nhận yêu cầu tiếp tục hợp đồng số 01/HĐ-BQL ngày 21/9/2016 về việc giao quyền sử dụng đất tại Cụm D - Xã P, Thành phố R với giữa bà T với Ban Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Thành Phố R. Bà T có nghĩa vụ trả số tiền còn lại là 32.300.000 đồng. Đình chỉ yêu cầu công nhận QSD đất trên là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà T do bà T rút yêu cầu tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Bà T có đơn khởi kiện yêu cầu Ban quản lý dự án phường V (Trước đây là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố R) (gọi tắt là Ban Q) tiếp tục thực hiện hợp đồng giao quyền sử dụng đất ngày 21/9/2016, công nhận đất chuyển nhượng là của nguyên đơn. Bị đơn Ban quản lý dự án có địa chỉ tại tổ B N, phường R, tỉnh An Giang, do đó theo quy định tại khoản 2, Điều 26, điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 1 – An Giang thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Toà án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất.
Về tố tụng:
Tại phiên toà, bà Lý Thị Mộng T xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất L1 nền số 01 diện tích 128m² tại Cụm D - Xã P, Thành phố R cho bà Lý Thị Mộng T là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà T nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu trên của bà T theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các đương sự thống nhất không yêu cầu Toà án xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá giá tài sản tranh chấp mà đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo Hợp đồng để giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu tiếp tục đề nghị thực hiện hợp đồng số 01/HĐ-BQL ngày 21/9/2016 về việc giao quyền sử dụng đất L1 nền số 01 diện tích 128m² tại Cụm D - Xã P, Thành phố R giữa bà T với Ban Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Thành Phố R. Bà T đồng ý trả số tiền còn lại là 32.300.000đ, HĐXX nhận thấy:
Về nguồn gốc Lô đất L1 nền số 01 diện tích 128m², toạ lạc tại Cụm D xã P, thành phố R là thuộc quyền quản lý, sử dụng của UBND thành phố R (nay là UBND phường V) theo Quyết định số 818/QĐ-UBND ngày 14/5/2007 của UBND tỉnh K (nay là tỉnh An Giang) về việc thu hồi đất tại ấp T, xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là KP T, phường V, tỉnh An Giang), hiện Lô L chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất.
Căn cứ theo văn bản phúc đáp số 1170/UBND-BQL ngày 03/10/2024 của UBND thành phố R (kế thừa nay là UBND phường V), căn cứ theo công văn số 505/UBND-KTCN UBND ngày 16/6/2008 của UBND tỉnh K (nay là UBND tỉnh A), căn cứ theo giấy đăng ký mua nền ngày 19/9/2016 của bà Lý Thị Mộng T thì Ban quản lý dự án có trách nhiệm ký hợp đồng nhận quyền sử dụng đất, có trách nhiệm thông báo và hướng dẫn các hộ dân nộp tiền mua nền nhà theo hợp đồng, sau khi các hộ dân nộp đủ tiền theo hợp đồng thì Ban quản lý dự án có trách nhiệm bàn giao mốc, ranh giới vị trí lô đất và hướng dẫn hộ dân lập thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận giao quyền sử dụng đất, do vậy Hợp đồng giao quyền sử dụng đất số 01/HĐ-BQL, ngày 21/9/2016 được ký giữa Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố R (nay là Ban quản lý dự án phường V) với chị Lý Thị Mộng T là hoàn toàn hợp pháp.
Về nội dung của hợp đồng: Quá trình tố tụng, tại phiên toà các bên cũng đã thừa nhận có ký hợp đồng giao quyền sử dụng đất số 01 ngày 21/9/2016 là sự thật, Ban quản lý dự án đã giao đất cho bà T sử dụng từ khi ký hợp đồng đến nay, bà T đã thanh toán theo đúng nội dung của hợp đồng đã ký cụ thể là thanh toán số tiền lần thứ nhất là 32.300.000 đồng cho Ban quản lý dự án theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 21/9/2016, số tiền còn lại là 32.300.000 đồng, bà T có đến gặp cán bộ Ban quản lý yêu cầu ra thông báo để bà đi nộp tiền nhưng cán bộ Ban quản lý cứ hẹn lần hẹn lựa mà không ra thông báo, dẫn đến việc bà nộp chậm tiền thanh toán lần thứ hai, sự việc trên thì tại phiên toà, đại diện Ban quản lý cũng xác nhận do cán bộ thời điểm đó đã làm sai là đã không ra thông báo đóng tiền lần 2 cho bà T nên đã dẫn đến việc bà T chậm thanh toán được số tiền lần hai, do vậy xác định được lỗi dẫn đến việc bà T không thực hiện hợp đồng là do lỗi bên Ban quản lý dự án. Do đó, giao dịch dân sự nêu trên, bà T có đủ điều kiện nhận chuyển nhượng phần đất trên của Ban quản lý dự án theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015, giao dịch dân sự giữa hai bên không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời điểm giao kết hợp đồng, lỗi dẫn đến các bên không thực hiện được hợp đồng là do bên Ban quản lý dự án, căn cứ theo Điều 413 Bộ luật dân sự 2015 thì có quy định: “Trong hợp đồng song vụ, khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”, theo đó bà T không thực hiện nghĩa vụ đóng tiền lần 2 cho Ban quản lý dự án là do lỗi của Ban quan lý dự án nên bà T có quyền yêu cầu Ban quản lý dự án tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà T, bà T có nghĩa vụ đóng số tiền chuyển nhượng đất còn lại là 32.300.000 đồng và các khoản phí cho Ban quản lý dự án là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu huỷ bỏ Thông báo số 03/BQL-TNV, ngày 04/4/2022 về việc huỷ Hợp đồng giao quyền sử dụng đất của bà T, Lô L tại Cụm D xã P - Xã P, HĐXX nhận thấy: Các thông báo nêu trên là do Ban quản lý dự án căn cứ theo hợp đồng mà đơn phương huỷ hợp đồng nhưng các Hợp đồng nêu trên vẫn phát sinh hiệu lực pháp luật theo những nhận định nêu trên, do đó việc yêu cầu huỷ các thông báo nêu trên của bà N là có cơ sở chấp nhận.
Xét yêu cầu của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận như đã phân tích và nhận định trên.
Thống nhất ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án như đã phân tích và nhận định trên.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Ban quản lý dự án phải chịu án phí đối với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 92, 147, 244, 266 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án
Căn cứ Điều 117, Điều 413 Bộ luật Dân sự; Điều 167, 188 Luật đất đai 2013;
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1/ Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Mộng T đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất L1 nền số 01 diện tích 128m² tại Cụm D - Xã P, Thành phố R cho bà Lý Thị Mộng T là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Lý Thị Mộng T.
2/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Mộng T về việc yêu cầu huỷ Thông báo số 03/BQL-TNV, ngày 04/4/2022 về việc huỷ Hợp đồng giao quyền sử dụng đất của bà Lý Thị Mộng T, Lô 1-01 (ghi nhầm là Lô7-01) tại Cụm D xã P - Xã P (nay là C dân cư kênh cây sao phường V) của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố R (nay là Ban quản lý dự án phường V).
3/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Mộng T đối với Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố R (nay là Ban quản lý dự án phường V) về việc “Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng giao quyền sử dụng đất”.
- Công nhận Hợp đồng số 01/HĐ-BQL, ngày 21/9/2016 về việc giao quyền sử dụng đất tại Cụm D - xã P, thành phố R được ký giữa Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố R (nay là Ban quản lý dự án phường V) và bà Lý Thị Mộng T có hiệu lực pháp luật.
- Bà Lý Thị Mộng T có trách nhiệm thanh toán số tiền chuyển nhượng đất còn lại của Lô L là 32.300.000 đồng (Ba mươi hai triệu, ba trăm nghìn đồng) và các khoản phí cho Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố R (nay là Ban quản lý dự án phường V) khi án có hiệu lực pháp luật.
- Sau khi bà T thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán số tiền chuyển nhượng còn lại của thửa đất nêu trên thì bà T có quyền liên hệ với cá nhân, cơ quan có thẩm quyền để thực hiện cấp giấy CNQSD đất đối với thửa đất nêu trên theo quyết định của Tòa án.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố R (nay là Ban quản lý dự án phường V) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Trả lại cho bà Lý Thị Mộng T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.615.000 đồng (Một triệu, sáu trăm mười lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007384 ngày 14/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 tỉnh An Giang).
“Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/11/2025). Đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực 1 An Giang; - Phòng THADS khu vực 1 An Giang; - Phòng KTNV và Thi hành án TA tỉnh; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (ĐÃ KÝ) Phan Thị Quyên |