- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Đỗ Thị Diễm Ngân - Công ty Cổ phần phát triển Công nghệ Viễn Thông Tin học Sun Việt"
- Tòa quyết gì? Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- Căn cứ chính? Điều 34 Bộ luật Lao động; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2024/LĐ-PT Ngày: 20/12/2024 V/v Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Trúc Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tiến Dũng
Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Lưu
Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thuận Hòa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh x t xử phúc th m c ng khai vụ án lao động thụ lý số 82/2024/TLPT-LĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024, về việc Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
Do Bản án lao động sơ th m số 39/2024/LĐ-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử phúc th m số 5893/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc th m số 17270/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Diễm N, sinh năm 1990 (có mặt).
Địa chỉ: F X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật gia Dương Văn T, sinh năm 1978, Tư vấn viên Trung tâm Tư vấn pháp luật Liên đoàn lao động Thành phố H (có mặt).
2. Bị đơn: C ng ty Cổ phần P2.
Trụ sở: 2A P, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền ngày 13/11/2023): Công ty L2 cộng sự.
Người đại diện theo ủy quyền lại (theo Giấy ủy quyền ngày 14/11/2023):
- Bà Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1998 (có mặt);
- Và/hoặc ng Nguyễn Đức T1, sinh năm 1999 (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Lê Trọng T2, sinh năm 1986, Công ty L2 & Các cộng sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Cùng địa chỉ liên lạc: 185 (tầng C) C B, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bà Đỗ Thị Diễm N - Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ theo đơn khởi kiện, đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, nội dung các bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thị Diễm N trình bày:
Bà Đỗ Thị Diễm N (sau đây gọi tắt là bà N hoặc nguyên đơn) làm việc và ký hợp đồng lao động với C ng ty Cổ phần P2 (sau đây gọi tắt là C ng ty hoặc bị đơn) vào tháng 8/2022. Đến cuối năm 2022, ng P - thuộc Nhóm kinh doanh khác thấy bà N là nhân viên có năng lực nên muốn bà về làm việc cho nhóm của ng ấy. Bà từ chối vì người phụ trách chính của nhóm bà lúc đó đang bị ốm. Sau đó, bằng một cách nào đó, bà N được chuyển về nhóm của ng P (người hướng dẫn bà trực tiếp khi qua nhóm của ng ấy) và ông T6 (phụ trách nhóm mới của bà) vào khoảng cuối tháng 1/2023, kh ng có biên bản th ng báo điều chuyển chính thức. Tuy nhiên, hơn 1 tháng được làm việc chung và được nhận sự hướng dẫn trực tiếp từ ng P, bà N thấy trong quá trình làm việc ng P có một vài sai phạm nhất định và thiếu sự trung thực, bà có trao đổi với ng P. Bà nghĩ đây mới chính là nguyên nhân mà ng P và ông T6 muốn bà ra khỏi nhóm và thậm chí ra khỏi C ng ty ngay và lu n, kh ng cho thuyên chuyển.
Vào ngày ngày 22/3/2023, bà N bị vướng vào sự việc "Văn minh c ng sở" (sau đây gọi tắt là VMCS) vì trong Phòng kinh doanh kh ng ai muốn làm vị trí Đại sứ VMCS nên nói để cho bà làm vì x t thấy bà nghiêm túc và khá phù hợp. Trong buổi họp VMCS, bà có đưa ra 2 góp ý: Kh ng nói lớn tiếng các chuyện kh ng liên quan tới c ng việc trong giờ làm việc và kh ng nói các chuyện nhạy cảm, giới tính trong giờ làm việc. Sau đó ng T6 - Trưởng nhóm có họp nói với bà là C ng ty có luật riêng của C ng ty, Phòng có luật riêng của P1, bà nói là bà cũng chỉ vì muốn tốt hơn chứ kh ng có ý gì khác, ông T6 nhìn bà im lặng. Khoảng 5 ngày sau đó là ngày 27/3/2023, ng P - Người hỗ trợ và hướng dẫn bà trực tiếp có nhắn tin cho bà với nội dung là bà kh ng phù hợp với m i trường này, quá rõ ràng và rạch ròi nên đề xuất bà tự nghỉ việc. Và có nhắn thêm là bà sẽ có cuộc họp với Ban giám đốc sau đó, nói bà chu n bị trước tinh thần. Vài ngày sau đó, ng T6 (Trưởng nhóm) có kêu bà lên nói chuyện, ng ấy lấy 2 lý do bên dưới để buộc th i việc: Một là bà kh ng có năng lực; hai là bà kh ng hòa đồng. Bà nói là bà đang làm tốt, bà muốn gắn bó với C ng ty, ng T6 lắc đầu và kêu bà D - Phòng nhân sự lên làm thủ tục cho bà nghỉ việc. Bà nói với bà D là sao bà đang làm việc bình thường mà lại buộc bà th i việc thì bà D lắc đầu nói chị đâu biết gì đâu, có gì em trao đổi với anh T6 đi. Vài ba h m sau đó, vào ngày thứ 2 (ngày 03/4/2023) bà T3 - Trưởng Phòng nhân sự gọi bà lên họp và nói C ng ty muốn bà nghỉ việc, vì: Bà kh ng hòa đồng, kh ng đóng tiền quỹ phòng, kh ng ăn trái cây trong phòng Kinh doanh và bà kh ng có khả năng làm tốt c ng việc hiện tại. Bà có trả lời là khi bà làm việc thường tập trung và có nguyên tắc để tránh sai phạm. Còn hòa đồng khác với hùa theo và quỹ phòng bà đóng đầy đủ. Còn về năng lực của bà, nếu bà kh ng có năng lực thì tại sao ng P và ông T6 lại đưa bà về nhóm của các ng ấy. Sau đó, bà T3 nói ý ở đây là các anh trong nhóm thấy em kh ng phù hợp, khó làm việc tiếp và đây cũng là quyết định từ Ban Giám đốc, giờ có giải thích cũng kh ng được gì. Sau đó bà có hỏi về quy trình nghỉ việc như thế nào, bà muốn được biết, bà T3 có gọi bà D là nhân sự dưới cấp của bà T3 lên hướng dẫn cho bà. Tuy nhiên, bà D nói cái này cũng đơn giản, có gì bà ấy gửi Email để hướng dẫn cho bà. Tuy nhiên, h m sau đó, thứ 3 (ngày 4/4/2023), bà D gửi cho bà E Quyết toán nghỉ việc, ấn định ngày 10/4/2023 là ngày bà chấm dứt làm việc trong khi kh ng hề có sự thỏa thuận và thống nhất từ bà. Hai ngày sau đó xóa địa chỉ Email C ng ty của bà. Ông P sau đó có tự ý gửi Email tới khách hàng của bà và th ng báo về việc bà nghỉ việc. Lúc này bà khá sốc, nên có nhắn tin với bà Huỳnh Nguyệt T4 - Giám đốc nhân sự, để trao đổi thêm về lý do và mong muốn được tiếp tục làm việc. Ba ngày sau đó, thứ 6 (07/4/2023) bà có gặp trực tiếp bà T4, nói về việc hai người quản lý trong nhóm của bà muốn cho bà ra khỏi tổ chức ngay và lu n như vậy thì chắc chắn phải có n tình gì ở đây. Bà T4 có nói năng lực của bà là có và đó kh ng phải là vấn đề, ngày phỏng vấn bà, bà D - Phòng nhân sự nói bà giỏi, sợ làm chung với anh trưởng nhóm cũ thì khó phát triển được, vấn đề ở đây thì chắc bà cũng có thể tự nhìn ra được rồi. Và bà T4 có nói, cái Phòng kinh doanh là phức tạp nhất và nếu đã như vậy thì việc làm tiếp sẽ khó cho bà, dù bà ấy có muốn bảo vệ bà, nên tốt nhất là bà sang làm ở m i trường khác, với năng lực của bà thì sẽ kh ng khó. Sau đó, bà có hỏi về chính sách hỗ trợ, bồi thường từ C ng ty và việc trả lương và đóng bảo hiểm đầy đủ cho bà cho tới hết hạn hợp đồng lao đồng. Bà T4 nói cái đó hai bên có thể thương lượng và có nhìn nhận việc cho bà nghỉ như vậy là kh ng đúng quy trình, đồng ý cho kh i phục lại tài khoản Email của bà.
Ngày thứ 2 (10/4/2023), C ng ty mở Email cho bà làm việc, bà T3 - Trưởng Phòng nhân sự thương lượng với bà N về việc bà nghỉ việc và khoản bồi thường 02 tháng lương, nếu bà đồng thuận nghỉ việc.
Sáng ngày thứ 4 (12/4/2023), ng T6 muốn bà bàn giao lại các dự án đã chốt, sắp chốt và nếu bà nghỉ thì sẽ kh ng tính hoa hồng trên các dự án đó. Bà có nói là bà kh ng bàn giao gì cả trừ khi có quyết định nghỉ việc hoặc cho th i việc từ ng T5 - Tổng Giám đốc C ng ty vì ng T5 là người thuê bà thì chỉ có duy nhất ng T5 là người có quyền quyết định cho bà nghỉ việc. Đầu giờ chiều cùng ngày, bà T3 nói bà lên làm việc với bà ấy. Và nói h m nay là hạn chót bàn giao. Dù bà có muốn hay kh ng muốn thì ngày h m nay cũng phải xong, vì ngày mai là ngày đi Team - Building của toàn C ng ty bà ấy rất bận và kh ng muốn việc của bà k o dài lâu hơn nữa. Bà T3 muốn bà đồng thuận nghỉ việc thì bà trả lời: Em đặt tâm huyết của mình ở C ng ty, muốn gắn bó phát triển làm việc lâu dài tại đây...". Bà T3 từ thuyết phục sang đe dọa, nói nếu bà kh ng chọn phương án đồng thuận, c ng ty sẽ chứng minh được việc vi phạm của bà để sa thải bà.
Sau đó bà T3 gọi ng C (Phó Tổng giám đốc), ng L1 (Phó Chủ tịch C ng đoàn), ng T6 (Trưởng nhóm mới) và ng Tú B (Trưởng nhóm cũ) lên họp. Bà T3 nói bà N có các hành vi vi phạm như sau:
1/ Gửi báo giá đi mà kh ng có sự phê duyệt của quản lý trực tiếp.
Bà bác nội dung này và nói trong mỗi báo giá bà gửi đi đều có báo ng P, chủ yếu là nhắn qua Zalo, ng ấy đồng ý về giá thì bà gửi đi. Đối với các dự án thầu, bà đều gửi Email xin các ng, bà ở các bộ phận liên quan, nên nói tự ý là kh ng đúng và bịa đặt.
2/ Tự ý lấy th ng tin của khách hàng và kh ng có sự đồng ý của cấp trên.
Từ khi bà chuyển từ nhóm của ng T5 B sang nhóm của ng T6 và ông P kh ng hề có sự bàn giao về nguồn dữ liệu khách hàng, bà có đề cập mấy lần. Tuy nhiên, ông T6 nói đợi qua tháng 4 nhưng qua tháng 4 cũng kh ng thấy bàn giao, nên việc tự ý lấy th ng tin khách hàng và kh ng có sự đồng ý của cấp trên là kh ng đúng.
Dựa vào hai điều đó và kết luận bà vi phạm tiết lộ "Th ng tin mật" để lập biên bản và ra quyết định cho bà nghỉ việc là kh ng đúng. C ng ty kh ng có th ng báo trước về việc xử lý kỷ luật lao động, dù là bằng lời nói hay là bằng văn bản và cũng kh ng có quyết định xử lý kỷ luật sau đó.
Nhận thấy quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 1223/QĐ-HCNS ngày 12/4/2023 về việc chấm dứt hợp đồng lao động của C ng ty Cổ phần P2 đối với bà N bởi lẽ quyết định này được ban hành trái pháp luật.
- Buộc C ng ty phải nhận bà N trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết.
- Buộc C ng ty phải trả cho bà N 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, tương ứng: 02 tháng x 18.000.000 đồng/tháng = 36.000.000 đồng (1)
- Buộc C ng ty phải trả cho bà N một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày kh ng báo trước với lý do C ng ty vi phạm quy định về thời hạn báo trước (30 ngày), tương ứng: 01 tháng x 18.000.000 đồng/tháng = 18.000.000 đồng (2)
- Buộc C ng ty phải trả cho bà N tiền lương trong những ngày bà N kh ng được làm việc kể từ ngày 13/4/2023 cho đến ngày 30/6/2024, tương ứng: 14 tháng 12 ngày x 18.000.000 đồng/tháng = 14*18.000.000 + (18.000.000/21*12) = 262.286.000 (3)
- Buộc C ng ty phải truy đóng BHXH, BHYT, BHTN cho bà N từ tháng 4/2023 cho đến tháng 6/2024 theo quy định của pháp luật.
Tổng cộng (1) + (2) + (3): 36.000.000 đồng + 18.000.000 đồng + 262.286.000 đồng = 316.286.000 đồng (ba trăm mười sáu triệu hai trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
Căn cứ vào các bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty Cổ phần P2 do bà Nguyễn Hoàng L đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 01/6/2022, bà Đỗ Thị Diễm N bắt đầu thử việc tại C ng ty với vị trí Sales Executive, thời gian thử việc từ ngày 01/6/2022 đến hết ngày 31/7/2022. Bên cạnh đó, cùng ngày 01/6/2022, bà N đã ký xác nhận Cam kết bảo mật với Công ty.
Ngày 01/8/2022, bà N và C ng ty đã ký kết Hợp đồng lao động số 12622/SV HĐLĐ và Phụ lục hợp đồng lao động đính kèm có các nội dung như sau: Loại hợp đồng xác định thời hạn từ ngày 01/8/2022 đến hết ngày 30/6/2024; vị trí làm việc: Sales Executive; địa điểm làm việc: Số B P, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; mức lương gộp: 18.000.000 đồng/tháng.
Trong quá trình làm việc, bà N đã có những hành vi vi phạm quy định của C ng ty và đã được Trưởng Bộ phận kinh doanh là ng Lăng Đức T6 (cấp trên trực tiếp) báo cáo đến Phòng Nhân sự bằng Báo cáo sự việc đề ngày 31/3/2023.
Sau quá trình kiểm tra, xác minh báo cáo của ng T6, để làm rõ sự việc và lắng nghe ý kiến của người lao động. Ngày 12/4/2023, đại diện C ng ty, đại diện Ban chấp hành c ng đoàn cơ sở và bà N đã có buổi làm việc liên quan đến những vi phạm của bà N được ghi nhận tại Biên bản làm việc về việc Vi phạm nội quy lao động ( Biên bản làm việc”). Theo đó, tại Biên bản làm việc các bên ghi nhận rằng hành vi vi phạm của bà N đã gây ra ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh và uy tín của C ng ty.
Tại buổi làm việc ngày 12/4/2023, mặc dù các bên đều đồng ý rằng những hành vi của bà N đã gây ảnh hưởng đến C ng ty nhưng trên tinh thần thiện chí, mong muốn giữ được mối quan hệ tốt đẹp giữa các bên và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trên con đường sự nghiệp về sau, Công ty và bà N đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, trên thực tế C ng ty chưa tiến hành bất kỳ thủ tục xử lý kỷ luật lao động nào, cũng chưa ban hành bất kỳ quyết định xử lý kỷ luật lao động nào đối với bà N. Cuộc họp ngày 12/4/2023, là một cuộc họp nội bộ để thảo luận về các hành vi vi phạm của bà N và sau đó đi đến được thỏa thuận chấm dứt quan hệ lao động kh ng phải cuộc họp xử lý kỷ luật lao động.
Để thống nhất thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động, trong cuộc họp ngày 12/4/2023: Bà N đã đề nghị Công ty gỡ bỏ điều khoản Chống cạnh tranh” quy định tại cam kết bảo mật giữa bà N và C ng ty. Do đó, bà N và C ng ty đã ký kết Biên bản thỏa thuận đề ngày 12/4/2023. Theo đó, các bên thỏa thuận bổ sung điều khoản số (3), Mục 3.3 trong cam kết bảo mật đề ngày 01/6/2022, cụ thể: Sau khi hai bên chấm dứt hợp đồng lao động số 12622 ký ngày 1 tháng 8 năm 2022, Bên A (C ng ty) kh ng khởi kiện đối với trường hợp Bên B (bà N) tham gia làm việc với bất kỳ công ty nào (kể cả các công ty cùng ngành SI) ở mọi thời điểm.”
Công ty và bà N thỏa thuận về việc Công ty hỗ trợ cho bà N một khoản tiền tương đương 30 (ba mươi) ngày lương để bà N có thời gian và chi phí tìm kiếm công việc mới. Chính vì vậy, cùng ngày 12/4/2023, bà N và C ng ty đã ký kết Biên bản tất toán thôi việc số 07.4/2023 ghi nhận nội dung thỏa thuận và về bản chất sự việc các bên đều hiểu và đồng ý rằng đây là biên bản thỏa thuận chấm dứt quan hệ lao động giữa các bên. Theo đó, tại Biên bản tất toán thôi việc, các bên thỏa thuận ghi nhận những nội dung chính như sau:
(a) Thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng lao động giữa bà N và Công ty;
(b) Tất cả các quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan đến Hợp đồng lao động sẽ chấm dứt kể từ ngày 13/04/2023;
(c) Công ty thanh toán cho bà N các khoản tiền, bao gồm:
(i) Lương tính từ ngày 01 đến hết ngày 12/04/2023 (09 ngày công);
(ii) Hỗ trợ bà N một khoản tiền tương đương 30 (ba mươi) ngày lương;
(iii) 03 ngày ph p năm tồn của năm 2023; và
(iv) Chi trả đầy đủ tiền thưởng năm 2022.
Tổng cộng số tiền chi trả cho bà N là 61.783.701 đồng, trong đó các khoản (i), (ii), (iii) là 31.881.068 đồng (ba mươi mốt triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn kh ng trăm sáu mươi tám đồng); và khoản (iv) đã được Công ty chi trả đầy đủ cho bà N trước đó vào ngày 10/01/2023 và ngày 07/4/2023.
Đồng thời, trong ngày 12/4/2023, sau khi Công ty và bà N hoàn tất việc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động, bà N đã tiến hành bàn giao công việc theo quy định của Công ty và ghi nhận tại Biên bản bàn giao công việc và quyết toán chi phí. Theo đó, C ng ty đã ban hành Quyết định số 1223/QĐ-HCNS đề ngày 12/4/2023 về việc chấm dứt hợp đồng lao động với bà N và xác định ngày chấm dứt hợp đồng lao động là kể từ ngày 13/4/2023.
Ngày 20/4/2023, C ng ty đã tiến hành chi trả đầy đủ số tiền 31.881.068 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của bà N như nội dung đã thỏa thuận tại biên bản tất toán thôi việc.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn kh ng đồng ý, bởi vì: Bà N và C ng ty đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động phù hợp với quy định tại Điều 34.3 Bộ luật Lao động vì: C ng ty và bà N tự nguyện thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động vào ngày 12/4/2023 và thống nhất lần lượt ký kết đầy đủ các biên bản thỏa thuận, biên bản tất toán th i việc và biên bản bàn giao. Theo đó, tại nội dung các biên bản này đã thể hiện rõ ràng bản chất của việc Công ty và bà N đều đồng ý và thống nhất ý chí về việc hai bên sẽ chấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày 13/4/2023, nên hai bên có nghĩa vụ thực hiện theo đúng, đầy đủ những nội dung đã thỏa thuận. C ng ty đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, khi đã hoàn thành chi trả các khoản tiền theo thỏa thuận tại Biên bản tất toán th i việc phù hợp với quy định tại Điều 48.1 Bộ luật Lao động và ký kết Biên bản thỏa thuận gỡ bỏ điều khoản Chống cạnh tranh” quy định tại Cam kết bảo mật giữa bà N và C ng ty. Tuy nhiên, về phía bà N, mặc dù tại Biên bản tất toán th i việc đã Cam kết kh ng khiếu nại bất kỳ điều gì sau khi Bên A (C ng ty) giải quyết chế độ chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận này” nhưng hiện nay bà N đã tiến hành khởi kiện C ng ty yêu cầu phải bồi thường bất chấp việc trước đó bà N và C ng ty đã thống nhất thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Giả sử trong trường hợp giữa C ng ty và bà N kh ng đạt được thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng lao động thì bà N đã kh ng tự nguyện đồng ý ký tên xác nhận vào các biên bản này. Thay vào đó, bà N đã có thể ngay lập tức từ chối ký kết thỏa thuận và thực hiện khiếu nại hoặc có những hành vi thể hiện sự kh ng đồng thuận. Căn cứ Điều 45.1, Điều 48.3 Bộ luật lao động, các quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Việc làm hiện hành và quy trình thủ tục hành chính tại các cơ quan Nhà nước có th m quyền, C ng ty đã hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm cho bà N và ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động để bà N có cơ sở thực hiện các thủ tục liên quan đến chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định (nếu có nhu cầu).
Nhận thấy C ng ty kh ng chấm dứt hợp đồng lao động với bà N theo trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hay xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải mà chấm dứt theo sự thỏa thuận của hai bên nên đề nghị Tòa án kh ng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ th m:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, gồm: Tuyên hủy Quyết định số 1223/QĐ-HCNS về việc chấm dứt hợp đồng lao động đề ngày 12/04/2023 của C ng ty Cổ phần P2 đối với bà N bởi lẽ Quyết định này được C ng ty ban hành trái pháp luật; Buộc C ng ty phải nhận bà N trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; Buộc C ng ty phải trả cho bà N 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, tương ứng: 02 tháng x 18.000.000 đồng/tháng = 36.000.000 đồng; Buộc C ng ty phải trả cho bà N một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày kh ng báo trước với lý do C ng ty vi phạm quy định về thời hạn báo trước (30 ngày), tương ứng: 01 tháng x 18.000.000 đồng/tháng = 18.000.000 đồng; Buộc Công ty phải trả cho bà N tiền lương trong những ngày bà N kh ng được làm việc kể từ ngày 13/04/2023 cho đến ngày 30/06/2024, tương ứng: 14 tháng 12 ngày x 18.000.000 đồng/tháng = 14*18.000.000 + (18.000.000/21*12) = 262.286.000 đồng; Buộc C ng ty phải truy đóng BHXH, BHYT, BHTN cho bà N từ tháng 04/2023 cho đến tháng 06/2024 theo quy định của pháp luật;
Bị đơn giữ nguyên ý kiến trình bày và kh ng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án lao động sơ th m số 39/2024/LĐ-ST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Kh ng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Diễm N về việc yêu cầu: Hủy Quyết định số 1223/QĐ-HCNS về việc chấm dứt hợp đồng lao động đề ngày 12/04/2023 của C ng ty Cổ phần P2; Buộc C ng ty phải: Nhận bà N trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết, trả 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với số tiền 36.000.000 đồng, trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày kh ng báo trước tương ứng 18.000.000 đồng, trả tiền lương trong những ngày bà N kh ng được làm việc kể từ ngày 13/4/2023 cho đến ngày 30/6/2024, tương ứng 262.286.000 đồng; buộc C ng ty phải truy đóng BHXH, BHYT, BHTN cho bà N từ tháng 4/2023 cho đến tháng 6/2024 theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ th m còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của đương sự trong giai đoạn thi hành án, thời hạn thi hành án.
Ngày 16/9/2024, nguyên đơn nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án lao động sơ th m, yêu cầu Tòa án cấp phúc th m sửa bản án sơ th m theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc th m, các đương sự kh ng thống nhất được cách giải quyết toàn bộ vụ án.
Nguyên đơn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng x t xử sửa bản án sơ th m theo hướng kh ng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn do bà Nguyễn Hoàng L kh ng chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng x t xử giữ nguyên bản án lao động sơ th m.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn - Luật gia Dương Văn T giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ th m. Trong suốt quá trình làm việc, bà N lu n hoàn thành tốt c ng việc được C ng ty giao. Tuy nhiên, ngày 12/4/2023, C ng ty đã lập Biên bản làm việc ghi nhận hành vi vi phạm của bà N đã gây ra ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh và uy tín của C ng ty, quy kết bà N vi phạm nội quy lao động để gây áp lực, chèn p buộc bà N thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động nhưng bà N không đồng ý. Tại Biên bản làm việc ngày 12/4/2023, bà N có trình bày nguyện vọng là mong muốn được tiếp tục làm việc cho C ng ty và kh ng muốn chấm dứt hợp đồng lao động theo đề nghị của C ng ty. Nhận thấy trong Biên bản tất toán đã dẫn chiếu Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 1223/QĐ-HCNS ngày 12/4/2023 để làm căn cứ ban hành Biên bản tất toán th i việc. Từ đó, cho thấy rằng Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 1223/QĐ-HCNS ngày 12/4/2023 được ban hành trước rồi sau đó C ng ty mới ban hành Biên bản tất toán th i việc. Do đó, đây kh ng phải là trường hợp chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận mà C ng ty ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 1223/QĐ-HCNS ngày 12/4/2023 để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà N là trái pháp luật theo quy định tại Điều 39 Bộ luật lao động năm 2019. Bản án sơ th m số 39/2024/LĐ-ST ngày 04/9/2024 có ghi nhận: Hội đồng x t xử x t thấy, tại thời điểm ban hành Quyết định số 1223/QĐ-HCNS, C ng ty đã vi phạm quy định tại Điều 36 Bộ luật Lao động 2019” nhưng Hội đồng x t xử cấp sơ th m lại kh ng giải quyết hậu quả pháp lý của việc C ng ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với bà N theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động 2019 để kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nguyên đơn là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ các Điều 36, 39 và 41 Bộ luật lao động 2019, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn theo hướng sửa bản án sơ th m, chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn - Luật sư Lê Trọng T2 trình bày: Trong thời gian làm việc, bà N đã vi phạm nội quy của C ng ty về cam kết bảo mật, đáng lẽ ra C ng ty đã thực hiện các thủ tục xử lý kỷ luật đối với bà N nhưng để tạo điều kiện cho bà thuận lợi khi tìm c ng việc mới, C ng ty và bà N đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động theo nội dung Biên bản làm việc về việc vi phạm nội quy lao động, Biên bản thỏa thuận số 07.4/2023, Biên bản tất toán th i việc, Biên bản bàn giao c ng việc và quyết toán chi phí cùng ngày 12/4/2023. Bà N đã tự nguyện thỏa thuận và ký vào các văn bản trên, tự nguyện bàn giao c ng việc và nhận các khoản tiền quyết toán trong thời gian làm việc theo Biên bản bàn giao c ng việc và quyết toán chi phí. Bà N đã nhận được Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động 1223/QĐ-HCNS ngày 12/4/2023, đã đồng ý nghỉ việc mới thực hiện việc bàn giao tài sản. Bà N cũng đã gửi các Email th ng báo cho các khách hàng về việc kh ng còn làm việc tại C ng ty. Do đó, kh ng có cơ sở để xác định C ng ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà N trái pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng x t xử phúc th m kh ng chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án lao động sơ th m theo hướng kh ng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc th m:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án đúng th m quyền. Th m phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Có th ng báo bằng văn bản cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp về việc thụ lý vụ án, quyết định x t xử cùng hồ sơ vụ án chuyển Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng x t xử, Thư ký Tòa án, người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh luận tại phiên tòa, x t thấy kháng cáo của nguyên đơn kh ng có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng x t xử kh ng chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án lao động sơ th m số 39/2024/LĐ-ST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được th m tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc chấp hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng x t xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
. Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp ngày 16/9/2024, thực hiện trong thời hạn luật định nên được Tòa án cấp phúc th m chấp nhận.
[1.2]. Việc xác định th m quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án của Tòa án cấp sơ th m phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên được Tòa án cấp phúc th m chấp nhận.
. X t kháng cáo của bị đơn:
. Ngày 01/6/2022, bà Đỗ Thị Diễm N bắt đầu thử việc tại C ng ty với vị trí Sales Executive, thời gian thử việc từ ngày 01/6/2022 đến hết ngày 31/7/2022. Đồng thời, bà N có ký Cam kết bảo mật ngày 01/6/2022 có nội dung cam kết bảo mật các th ng tin, bí mật kinh doanh khi bà làm việc tại C ng ty. Sau khi hết thời gian thử việc, ngày 01/8/2022 hai bên ký Hợp đồng lao động xác định thời hạn số 12622/SV HĐLĐ có nội dung: Bà N làm việc tại C ng ty từ ngày 01/8/2022 đến ngày 30/6/2024 với vị trí Sales Executive, thực hiện các c ng việc theo bản m tả c ng việc, chịu sự điều hành trực tiếp của Trưởng BP Sales; thời gian làm việc từ thứ hai đến thứ sáu; mức lương cơ bản 6.500.000 đồng/tháng. Ngoài ra, bà N được hưởng các khoản phụ cấp theo quy định của C ng ty; những vấn đề kh ng ghi trong hợp đồng lao động thì áp dụng quy định của Nội quy C ng ty. Ngoài ra, nguyên đơn và bị đơn còn ký Phụ lục hợp đồng lao động số 126/SV HĐLĐ ngày 01/8/2022, thỏa thuận bổ sung Điều 3.1, theo đó mức lương thu nhập G là 18.000.000 đồng/tháng; C ng ty sẽ trích từ khoản thu nhập Gross trên và thay mặt bà N đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc theo mức lương cơ bản đã ký trong hợp đồng lao động, thuế thu nhập cá nhân theo quy định hiện hành của nhà nước; phụ cấp điện thoại 200.000 đồng/tháng.
. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N xác nhận: Ngày 12/4/2023, trước khi Công ty B1 Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 1223/QĐ-HCNS, bà N cùng với người đại diện theo ủy quyền của C ng ty và đại diện Ban chấp hành c ng đoàn đã có buổi làm việc, ghi nhận hành vi vi phạm tiết lộ Th ng tin mật” của C ng ty trong thời gian bà N làm việc gây ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh và uy tín của C ng ty nhưng C ng ty kh ng thực hiện xử lý kỷ luật lao động đối với bà N theo Biên bản làm việc (V/v: Vi phạm Nội quy lao động ngày 12/4/2023); đồng thời, có làm việc nội dung liên quan đến việc hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Cuối buổi làm việc, bà N có mong muốn C ng ty hủy quyết định cho bà nghỉ việc nhưng kh ng được đồng ý. Sau đó, hai bên có ký các Biên bản thỏa thuận, Biên bản tất toán th i việc, Biên bản bàn giao c ng việc và quyết toán chi phí cùng ngày 12/4/2023. Tại thời điểm ký các văn bản này, nguyên đơn kh ng bị ai p buộc.
. Tại phiên tòa phúc th m, bà N cho rằng bà kh ng vi phạm cam kết bảo mật mà C ng ty đã chèn p, buộc bà phải chấm dứt hợp đồng lao động nhưng kh ng cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này nên Hội đồng x t xử giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Điều 1 của Biên bản tất toán th i việc ngày 12/4/2023 có nội dung: Chấm dứt hợp đồng lao động số 12622 giữa C ng ty Cổ phần P2 và Chị Đỗ Thị Diễm N kể từ ngày 01/8/2022 đến ngày 30/6/2024; Tất cả quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan đến hợp đồng lao động nêu trên sẽ chấm dứt kể từ ngày 13/4/2023” và Điều 4 của biên bản này thể hiện: Các Bên đồng ý rằng, bằng sự hiểu biết của mình đã đọc, hiểu và đồng ý chịu sự ràng buộc bởi các điều khoản của thỏa thuận này”.
. Hội đồng x t xử x t thấy nguyên đơn đã tự nguyện ký vào các Biên bản làm việc (V/v: Vi phạm Nội quy lao động), Biên bản tất toán th i việc, Biên bản thỏa thuận, Biên bản bàn giao c ng việc và quyết toán chi phí cùng ngày 12/4/2023 và đã thực hiện bàn giao toàn bộ c ng việc; đồng thời nguyên đơn xác nhận đã gửi các Email th ng báo cho khách hàng về việc bà N không còn làm việc tại C ng ty. Từ ngày 13/4/2023, nguyên đơn kh ng đến C ng ty làm việc và đã nhận đầy đủ các chế độ liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, có cơ sở để Hội đồng x t xử xác định nguyên đơn và bị đơn đã tự nguyện thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 3 Điều 34 của Bộ luật Lao động năm 2019 và sự thỏa thuận này kh ng vi phạm điều cấm của pháp luật, kh ng trái đạo đức của xã hội nên bị đơn kh ng cần thực hiện thủ tục th ng báo chấm dứt hợp đồng lao động với nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 45 của Bộ luật lao động trước khi ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động. Tòa án cấp sơ th m nhận định tại thời điểm ban hành Quyết định số 1223/QĐ-HCNS, C ng ty đã vi phạm quy định tại Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 là chưa chính xác. Căn cứ khoản 3 Điều 34 của Bộ luật Lao động 2019, Tòa án cấp sơ th m kh ng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy Quyết định số 1223/QĐ-HCNS ngày 12/4/2024 và buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ đối với nguyên đơn khi đơn phương chấm dứt trái pháp luật, gồm: Buộc C ng ty phải nhận bà N trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; trả 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với số tiền 36.000.000 đồng; trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày kh ng báo trước với số tiền 18.000.000 đồng; trả tiền lương trong những ngày kh ng được làm việc kể từ ngày 13/4/2023 cho đến ngày 30/6/2024, tương ứng: 14 tháng 12 ngày với số tiền 262.286.000 đồng; truy đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bà N từ tháng 4/2023 cho đến tháng 6/2024 theo quy định của pháp luật là phù hợp nên Tòa án cấp phúc th m kh ng có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng x t xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án lao động sơ th m theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là kh ng có cơ sở nên Hội đồng x t xử kh ng chấp nhận.
. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng x t xử kh ng chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án lao động sơ th m là có căn cứ nên Hội đồng x t xử chấp nhận.
. Án phí lao động sơ th m: Nguyên đơn được miễn tạm ứng án phí lao động sơ th m; bị đơn kh ng phải chịu án phí lao động sơ th m theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Án phí lao động phúc th m: Nguyên đơn được miễn án phí lao động phúc th m; bị đơn kh ng phải chịu án phí lao động phúc th m theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 148, Điều 293, khoản 2 Điều 296 và khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng:
Điều 34, Điều 36 của Bộ luật Lao động năm 2019;
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Kh ng chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Đỗ Thị Diễm N. Giữ nguyên Bản án lao động sơ th m số 39/2024/LĐ-ST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Kh ng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Diễm N về việc:
1.1. Tuyên hủy Quyết định số 1223/QĐ-HCNS về việc chấm dứt hợp đồng lao động ngày 12/4/2023 của C ng ty Cổ phần P2;
1.2. Buộc C ng ty Cổ phần P2 phải: Nhận bà N trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; trả 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với số tiền 36.000.000 đồng; trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày kh ng báo trước (30 ngày) với số tiền 18.000.000 đồng; trả tiền lương trong những ngày kh ng được làm việc kể từ ngày 13/4/2023 cho đến ngày 30/6/2024, tương ứng 14 tháng 12 ngày với số tiền 262.286.000 đồng; truy đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bà N từ tháng 4/2023 cho đến tháng 6/2024 theo quy định của pháp luật.
2. Án phí lao động sơ th m:
2.1. Bà Đỗ Thị Diễm N được miễn án phí lao động sơ th m.
2.2. C ng ty Cổ phần P2 kh ng phải chịu án phí lao động sơ th m.
3. Án phí lao động phúc th m:
3.1. Bà Đỗ Thị Diễm N được miễn án phí lao động phúc th m.
3.2. C ng ty Cổ phần P2 kh ng phải chịu án phí lao động phúc th m.
4. Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Tòa án nhân dân quận Tân Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình; - Đương sự; - Lưu (T18). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Trúc |