vanban.org

Bản án 116/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 14/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vũ Văn C và Phạm Đức H;

Tuyên bố: các bị cáo Vũ Văn C, Phạm Đức H và Ninh Xuân H1 phạm tội "Tham ô tài sản". 1. Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/10/2023.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn C cùng đồng phạm - phạm tội tham ô tài sản (điều 353 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vũ Văn C và Phạm Đức H;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 353 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HS-ST
Ngày 14/08/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Mão

Bà Hoàng Thị Kim Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Giang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 08 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 06 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 08 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Văn C, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1994, tại Ninh Bình; Nơi cư trú: Xóm 2, thôn Q, xã Y, huyện Y , tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề ngH1: Công nhân; Bố đẻ: Vũ Văn C; Mẹ đẻ: Mai Thị S; Gia đình có hai chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Phạm Thị N; Con: có hai con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Chưa có

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/10/2023 đến ngày 28/10/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay, (Có mặt).

2. Họ và tên: Phạm Đức H, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1992, tại Ninh Bình; Nơi cư trú: xóm 6, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề ngH1: Lao động tự do; Bố đẻ: Phạm Văn B; Mẹ đẻ: Đinh Thị B; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/10/2023 đến ngày 28/10/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay, (Có mặt).

3. Họ và tên: Ninh Xuân H1, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1994, tại Ninh Bình; Nơi cư trú: xóm 2 Lam Sơn, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề ngH1: Công nhân; Bố đẻ: Ninh Xuân H; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Kim O; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Trịnh Thị T; Con: có hai con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/10/2023 đến ngày 28/10/2023 chuyển tạm giam tại trại Tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình sau đó đến ngày 26/12/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, (Có mặt).

- Bị hại: Công ty TNHH M, địa chỉ: Lô CN1, khu công nghiệp P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lee Jun H - Tổng giám đốc công ty. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Doãn Thị Thu G - Trưởng phòng hành chính tổng hợp Công ty TNHH M. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn C, Phạm Đức H và Ninh Xuân H1 đều làm việc tại Công ty TNHH M trong đó Vũ Văn C là công nhân kho tại xưởng bộ phận FINAL TEST LINE, công việc hàng ngày là sửa chữa socket trong kho phía trong, quản lý vật tư, linh kiện, máy móc của kho trong, lấy công cụ, dụng cụ để sửa chữa socket, hỗ trợ quản lý kiểm kê, vận chuyển đồ đạc trong kho; Phạm Đức H là kỹ sư được giao nhiệm vụ sửa chữa máy phát sinh tại công đoạn kiểm tra độ nét (MF); Ninh Xuân H1 là kỹ sư tại bộ phận FINAL TEST LINE được giao nhiệm vụ là sửa chữa máy móc phát sinh tại công đoạn kiểm tra màu sắc (PDAF), hỗ trợ công nhân dưới PDAF C170/150 (chuyền máy móc), sửa chữa máy móc bị hỏng, setup model mới, thay đổi chương trình CCFILE và trong ca trực H1 được phân công quản lý dãy máy C150 và C170 tại dãy PDAF. Trong quá trình làm việc vào ca đêm (từ 20 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ sáng ngày hôm sau) Vũ Văn C thấy vật tư, linh kiện máy tính của trong kho của công ty quản lý lỏng lẻo, C đã nhiều lần chiếm đoạt các chip Intel Core i7- 7700 và ổ cứng loại Samsung 860 Pro 512GB ở các cây máy vi tính trong kho và Vũ Văn C rủ Ninh Xuân H1 chiếm đoạt các chíp Intel Core i7- 7700 trong các máy tính ở các dãy máy C150 và C170 đưa cho C. Sau đó C mang các chip Intel Core i7- 7700 và ổ cứng loại Samsung 860 Pro 512GB của C và H1 chiếm đoạt được bán cho Phạm Đức H với giá 500.000 đồng/1 chíp loại Intel Coren i7700 và 250.000 đồng/1 ổ cứng loại Samsung 860 Pro 512GB. Để tránh bị công ty phát hiện H đã đặt mua 52 con chíp loại G4400 với giá từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng trên mạng xã hội (Hạnh không nhớ được mua bao nhiêu chíp loại G4400 giá 50.000 đồng và mua bao nhiêu chíp loại G4400 giá 100.000 đồng) rồi đưa cho C để C, H1 thay thế vào các chíp loại Intel Core i7-7700 đã chiếm đoạt.

Sau khi mua chíp và ổ cứng, H sử dụng số tài khoản 19033678311010 tại ngân hàng Teckcombank của H chuyển trả tiền mua ổ cứng và chíp tới số tài khoản 226966669999 tại ngân hàng Teckcombank của C. Khi C nhận được tiền của H, C sử dụng số tài khoản 226966669999 tại ngân hàng Teckcombank của C chuyển tiền đến số tài khoản 19034774817010 tại ngân hàng Teckcombank của H1 chuyển trả cho H1 những con chíp H1 đã chiếm đoạt được. Sau khi mua được ổ cứng và chíp, H giao bán ổ cứng và chíp trên mạng xã hội với giá 700.000 đồng/1 chíp Intel Core i7 và 350.000 đồng/1 ổ cứng loại Samsung 860 Pro 512GB .

Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 5 năm 2023 đến cuối tháng 9 năm 2023 (C không nhớ rõ ngày, tháng) khi đi làm ca đêm, C sẽ mang theo chíp loại G4400 (thường là từ 4 đến 10 chíp) do H đưa vào trong xưởng sau đó C cất giấu các chíp G4400 vào túi quần đang mặc rồi mặc quần áo bảo hộ của công ty ra ngoài. C dùng tua vít (của công ty ở trong kho) tháo các máy PC (cây máy tính bị hỏng linh kiện để trong kho sửa chữa) lấy các chíp loại Intel Core i7-7700 ra khỏi cây máy tính rồi bỏ vào túi quần đang mặc. Sau đó C lấy các chíp loại G4400 mang theo lắp vào máy PC và vặn ốc vít lại để tránh bị phát hiện. Ngoài ra C còn dùng tay vặn chiếc lẫy trên các máy PC, lúc này ổ cứng trong máy PC sẽ bị đẩy ra, C lấy ổ cứng bỏ vào túi quần đang mặc. Khi hết ca làm, C sẽ mang các chíp Intel Core i7-7700 và ổ cứng Samsung 860 Pro 512GB về bán cho H. Trong khoảng thời gian trên, C đã chiếm đoạt được 21 chíp Intel Core i7-7700 và 61 ổ cứng Samsung 860 Pro 512GB của Công ty TNHH M.

Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 6 năm 2023 đến đầu tháng 7 năm 2023 (H1 không nhớ rõ ngày, tháng), khi đi làm H1 mang theo chíp loại G4400 do C đưa giấu chíp G4400 vào trong túi quần đang mặc rồi mặc quần áo bảo hộ của công ty ra ngoài. Trong ca trực, H1 dùng tua vít của công ty vặn các ốc vít bắt hãm chíp của các dãy máy C150 và C170 ra rồi lấy các chíp Intel Core i7-770 bỏ vào ống quần bảo hộ đang mặc, sau đó H1 lắp chíp G4400 vào máy PC và vặn ốc vít lắp lại như cũ để tránh bị phát hiện. Sau khi lấy được các chíp Intel Core i7-7700 H1 tìm cách đưa cho C để C cất giấu và mang ra khỏi công ty bán cho H. Trong khoảng thời gian trên, H1 và C đã chiếm đoạt được 31 Chíp Intel Core i7-7700 của Công ty TNHH M.

Đến ngày 25/9/2023 Công ty TNHH M phát hiện bị mất tài sản, đến ngày 19/10/2023, bà Doãn Thị Thu G, sinh năm 1983 trú tại phố V, phường B, TP Ninh Bình (trưởng phòng hành chính tổng hợp Công ty TNHH M) đã trình báo Cơ quan CSĐT Công an thành phố N.

Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố N đã triệu tập Vũ Văn C, Phạm Đức H và Ninh Xuân H1 đến làm việc. C, H1 và H đã viết đơn xin đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp lại 09 ổ cứng Sam sung 860 Pro 512 GB (C chiếm đoạt của công ty nhưng chưa đưa cho H bán).

Cơ quan CSĐT Công an thành phố N tiến hành thu giữ của Công ty TNHH M: 14 chíp G4400; 02 chíp Intel Core i7-7700 và 09 ổ cứng Sam sung 860 Pro 512 GB. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A73 của Phạm Đức H, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max của Ninh Xuân H1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A51 của Vũ Văn C

Tại bản kết luận định giá tài sản số 86/KL- HĐĐGTS ngày 24/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Uỷ ban nhân thành phố N kết luận: 52 cái chíp Intel Core i7- 7700 có giá là 109.200.000 đồng, 61 chiếc ổ cứng loại Samsung 860 Pro 512GB có giá là 140.300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 249.500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 100/CT-VKSTPNB ngày 26/06/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình truy tố các bị cáo Vũ Văn C, Phạm Đức H và Ninh Xuân H1 về tội “Tham ô tài sản”. Theo điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn C và Phạm Đức H. Theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự đối với bị can Ninh Xuân H1.

Tại phiên tòa: các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản số 86/KL- HĐĐGTS ngày 24/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Uỷ ban nhân dân thành phố N.

Quá trình điều tra bị hại xác định tổng thiệt hại giá trị tài sản là 249.500.000 đồng, gia đình các bị cáo đã bồi thường số tiền 110.000.000 đồng, số tiền còn lại 139.000.000 đồng bị hại không đề nghị các bị cáo phải bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện VKSND thành phố N giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn C, Phạm Đức H và Ninh Xuân H1 phạm tội "Tham ô tài sản".

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự;

+ Xử phạt Vũ Văn C từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/10/2023.

+ Xử phạt Phạm Đức H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/10/2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 353; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Ninh Xuân H1 từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án (được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 19/10/2023 đến ngày 26/12/2023).

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS; tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước 14 chíp G4400, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A73, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A51.

Về án phí: các bị cáo C, H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo H được miễn án phí.

Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vũ Văn C, Phạm Đức H, Ninh Xuân H1 là công nhân, kỹ sư làm tại xưởng bộ phận FINAL TEST LINE của Công ty TNHH M ở Lô CN1, khu công nghiệp P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình được giao quản lý kho và các dãy máy của Công ty TNHH M. Trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2023 đến tháng 9 năm 2023, lợi dụng vào công việc được giao và sự quản lý thiếu chặt chẽ của công ty, Vũ Văn C, Phạm Đức H, Ninh Xuân H1 đã chiếm đoạt các Chíp Intel Core i7 và ổ cứng loại Samsung 860 Pro 512GB của máy tính tại phân xưởng FINAL TEST LINE của Công ty TNHH M. Trong đó Vũ Văn C, Phạm Đức H chiếm đoạt 52 Chíp Intel Core i7 và 61 ổ cứng loại Samsung 860 Pro 512GB có tổng giá trị là 249.500.000 đồng; Ninh Xuân H1 đã chiếm đoạt Chíp Intel Core i7 có giá trị 65.100.000 đồng.

Điều 353. Tội tham ô tài sản

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

…………………………………..

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

………………………………………

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

……………………………………………

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm đối với xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của doanh ngH1 được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh ngH1, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi cố ý. Đối chiếu với nội dung bản Cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là có căn cứ. Vì vậy, hành vi của bị cáo Ninh Xuân H1 đã phạm tội “Tham ô tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 353 BLHS; hành vi của các bị cáo Vũ Văn C, Phạm Đức H đã phạm tội “Tham ô tài sản” thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 BLHS;

Vụ án có đông bị cáo tham gia, tuy nhiên không có sự bàn bạc cấu kết chặt chẽ do đó hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn. Để cá thể hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thấy rằng.

Lợi dụng công việc được giao Vũ Văn C thấy vật tư, linh kiện máy tính của trong kho của công ty quản lý lỏng lẻo, C đã hỏi H cách hướng dẫn thay thế các chip Intel Core i7- 7700 đang sử dụng ở các cây máy tính PC của công tý bằng cách thay chip Intel Core cấu hình thấp hoặc đã bị hỏng và lấy các ổ cứng loại Samsung 860 Pro 512GB ở cây máy tính, H đã hướng dẫn và cung cấp chip G4400 để có công cụ thay thế. C đã nhiều lần chiếm đoạt các chip Intel Core i7- 7700 và ổ cứng loại Samsung 860 Pro 512GB ở các cây máy vi tính trong kho và rủ Ninh Xuân H1 chiếm đoạt các chíp Intel Core i7- 7700 trong các máy tính ở các dãy máy C150 và C170 đưa cho C. Do đó C có vai trò đầu trong vụ án, H đồng phạm với C và có vai trò sau C, H1 có vai trò cuối trong vụ án.

Về nhân thân các bị cáo: các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: khi bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố N đã triệu tập đến làm việc các bị cáo C, H1 và H đã viết đơn xin đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình; Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo các bị cáo C, H1 và H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội các bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo H thuộc gia đình hộ cận nghèo; bị cáo C có ông nội tham gia cách mạng. Do đó, các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo; Hội đồng xét xử, xét thấy: cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời để giáo dục, cải tạo các bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt thấy rằng các bị cáo đều là nhân viên ký hợp đồng với doanh nghiệp như một lao động phổ thông, không phải là đối tượng có chức vụ, quyền hạn nằm trong nhóm có nguy cơ tham nhũng cao, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, khi lượng hình cần áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS đối với bị cáo C và bị cáo H; khoản 3 Điều 54 BLHS đối với bị cáo H1 để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

[2] Về các biện pháp tư pháp

- Vật chứng :

+ Đối với 02 chíp Intel Core i7-7700 và 09 ổ cứng Sam sung 860 Pro 512 GB là tài sản của Công ty TNHH M. Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an thành phố N đã trả lại cho bà Doãn Thị Thu G là trưởng phòng hành chính tổng hợp Công ty TNHH M (người đại diện theo uỷ quyền) là phù hợp.

+ Đối với 14 chíp G4400 thu giữ của Công ty TNHH M, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A73 thu giữ của Phạm Đức H, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max thu giữ của Ninh Xuân H1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A51 thu giữ của Vũ Văn C liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo cần tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước.

- Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại xác định tổng thiệt hại giá trị tài sản là 249.500.000 đồng, gia đình các bị cáo đã bồi thường số tiền 110.000.000 đồng, số tiền còn lại 139.000.000 đồng bị hại không đề nghị các bị cáo phải bồi thường và không có ý kiến gì khác. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự, hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[3] Về án phí: các bị cáo C, H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo H thuộc gia đình hộ cận nghèo nên được miễn án phí theo quy định.

[4] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vũ Văn C và Phạm Đức H;

- Khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ninh Xuân H1.

1. Tuyên bố: các bị cáo Vũ Văn C, Phạm Đức H và Ninh Xuân H1 phạm tội "Tham ô tài sản".

1.1. Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/10/2023.

1.2. Xử phạt bị cáo Phạm Đức H 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/10/2023

1.3. Xử phạt bị cáo Ninh Xuân H1 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. (Được trừ thời gian đã bị giam, giữ từ ngày 19/10/2023 đến ngày 26/12/2023).

2. Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS, Tịch thu sung công quỹ nhà nước 14 chíp G4400, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A73, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A51.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/08/2024 giữa Cơ quan CSĐT công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh Ninh Bình).

3. Về án phí: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc các bị cáo Vũ Văn C, Ninh Xuân H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Phạm Đức H được miễn án phí.

4. Quyền kháng cáo:

- Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ