- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 116/2023/HS-ST Ngày 18 tháng 9 năm 2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2023/TLST-HS, ngày 07 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2023/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Võ Thành L (L cá mòi), sinh ngày 02 tháng 7 năm 1978 tại Long Xuyên, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: phường ML, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Văn Ê (chết) và bà Trần Thị M; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12 tháng 10 năm 2000, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tổng hợp hình phạt 01 năm 09 tháng tù, đến ngày 03 tháng 11 năm 2001 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 23 tháng 3 năm 2005, bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 12 tháng, đến ngày 24 tháng 02 năm 2006 chấp hành xong quyết định. Ngày 22 tháng 11 năm 2006, bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng, đến ngày 23 tháng 4 năm 2009 chấp hành xong quyết định. Ngày 06 tháng 8 năm 2011, bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng, đến ngày 28 tháng 5 năm 2013 chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14 tháng 8 năm 2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Long Xuyên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1997. Nơi cư trú: phường MP, thành phố Long Xuyên. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1996. Nơi cư trú: phường MX, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: phường BK, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
2. Ông Lê Văn T, sinh năm 1996. Nơi cư trú: xã PT, huyện PT, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện nay: thị trấn CD, huyện CP, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 14 tháng 8 năm 2023, Võ Thành L đến khu vực phường MP, thành phố Long Xuyên tìm tài sản lấy trộm. Khi đi qua nhà anh Nguyễn Trọng N ở số phường MP, thành phố Long Xuyên thấy trước sân nhà có dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Fi màu bạc, biển số 67K1-865.66 không người trông giữ nên L dùng cây đoản mở khóa điều khiển xe chạy được khoảng 20m thì bị anh N phát hiện, truy hô. L bỏ lại xe tẩu thoát thì bị anh N và anh Nguyễn Văn H đuổi theo bắt giữ giao Công an phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên lập biên bản tiếp nhận người bị bắt phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) xe mô tô biển số 67K1-865.66 số khung 7637JZ010981, số máy JC76E0316068; 01 cây đoản bằng kim loại dài 18cm.
* Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số: 191/KL.HĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, xác định: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Future Fi Việt Nam, biển số 67K1-865.66, trị giá 16.520.000 đồng.
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 119/QĐ-VKS, ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, truy tố Võ Thành L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Thành L từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây đoản (loại ống điếu chữ L, dùng để sửa xe) dài khoảng 11cm được gắn với một đoạn kim loại dạng lục giác đầu được mài mỏng, dẹp, nhọn dài khoảng 07cm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản như nội dung quyết định truy tố. Bị cáo thống nhất phát biểu luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, đề nghị mức hình phạt và xử lý vật chứng. Bị cáo không tranh luận, không bào chữa, ăn năn về hành vi vi phạm xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai của ông Nguyễn Trọng N: Xe mô tô biển số 67K1-865.66 ông mua lại của cửa hàng mua bán xe cũ tại Bình Khánh. Giấy chứng nhận đăng ký xe tên Lê Văn T, xe hiệu Honda Future, màu xanh bạc đã được sơn màu đen, thay tem Wave I nhưng không biết thay vào thời gian nào. Ông đã nhận lại xe mô tô biển số 67K1-865.66, không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Yêu cầu xử lý đối tượng trộm theo quy định pháp luật.
Lời khai của ông Lê Văn T: Trước đây ông sở hữu xe mô tô biển số 67K1-865.66, xe do ông mua lại của người khác với giá 25.000.000 đồng đã sang tên chủ sở hữu, nhưng hiện nay ông đã bán xe lại cho người tên P, khi bán có làm giấy tờ mua bán xe giữa tôi và ông P.
Lời khai của ông Nguyễn Thanh P: Xe mô tô 67K1-865.66 ông bán lại cho ông N do ông mua của người tên T. Khi mua xe thì giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Lê Văn T. Từ khi mua xe của ông T và bán lại cho ông N, ông không thay đổi đặc điểm, cấu tạo của xe.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:
. Về tố tụng:
Đối với các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng quy định pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không kêu oan, không khiếu nại, không có ý kiến về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại ông Nguyễn Trọng N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh P và ông Lê Văn T, người làm chứng ông Nguyễn Văn H. Xét thấy ông N, ông P, ông T, ông H được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, quá trình điều tra bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã cung cấp lời khai phù hợp nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ, vật chứng thu thập được nên sự vắng mặt của những người này tại phiên tòa không gây trở ngại đến việc xét xử. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 xét xử vụ án theo thủ tục chung.
. Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Thành L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm cùng các tang vật, vật chứng đã thu giữ và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ được thu thập khách quan, đúng pháp luật.
Do đó, có đủ căn cứ kết luận ngày 14 tháng 8 năm 2023 bị cáo L lợi dụng sơ hở của ông Nguyễn Trọng N trong việc quản lý tài sản để lấy trộm xe mô tô biển số 67K1-865.66. Bị cáo trưởng thành, có sức khỏe, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi cố ý, lén lút, lợi dụng sơ hở của bị hại để lấy trộm tài sản có giá trị 16.520.000 đồng là thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, xét thấy, tuy hành vi phạm tội bị cáo thực hiện thuộc loại tội ít nghiêm trọng nhưng thể hiện sự liều lĩnh, bất chấp để có được tài sản. Bị cáo có sức khỏe, có khả năng lao động để tạo ra thu nhập chính đáng lo cho bản thân. Nhưng vì thích sống hưởng thụ, không siêng năng lao động, muốn có tiền tiêu xài nhanh chóng, nhẹ nhàng bị cáo lợi dụng sơ hở của người khác trong việc trông coi, quản lý tài sản để lấy trộm. Bị cáo từng bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, nên bị cáo biết rõ trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn tiếp tục thực hiện. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh, an toàn xã hội tại địa phương, gây lo lắng cho nhân dân trong bảo quản tài sản, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội.
Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung. Xét mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo gây ra, đề nghị này được chấp nhận.
Về nhân thân bị cáo và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy, ngày 12/10/2000, bị cáo bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 23/3/2005, bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 12 tháng, ngày 24/02/2006 chấp hành xong quyết định. Ngày 22/11/2006, bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng, ngày 23/4/2009 chấp hành xong quyết định. Ngày 06/8/2011, bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng, ngày 28/5/2013 chấp hành xong quyết định.
Xét thấy, mặc dù bị cáo không còn tiền án, tiền sự nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 03/11/2001, thời gian dài từ năm 2005 đến năm 2013 bị cáo nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án phù hợp để cải tạo, giáo dục bị cáo tuân thủ pháp luật, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên có xem xét, cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Trọng N đã nhận lại tài sản do bị cáo lấy trộm vào ngày 14/8/2023 là xe mô tô biển số 67K1-865.66 theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Long Xuyên trao trả ngày 28/8/2023, ông Nkhông yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không xem xét giải quyết.
Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Long Xuyên có thu giữ đồ vật, tài liệu theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07 tháng 9 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Long Xuyên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, được xử lý như sau:
Đối với 01 (một) cây đoản (loại ống điếu chữ L, dùng để sửa xe) dài khoảng 11cm được gắn với một đoạn kim loại dạng lục giác đầu được mài mỏng, dẹp, nhọn dài khoảng 07cm.
Xét thấy, đây là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, có liên quan đến tội phạm, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Võ Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Võ Thành L 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 14 tháng 8 năm 2023).
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07 tháng 9 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Long Xuyên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây đoản (loại ống điếu chữ L, dùng để sửa xe) dài khoảng 11cm được gắn với một đoạn kim loại dạng lục giác đầu được mài mỏng, dẹp, nhọn dài khoảng 07cm.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo Võ Thành L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a; 7b Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh AG; - VKS ND tỉnh An Giang; - VKS ND Tp. Long Xuyên; - Sở Tư pháp tỉnh An Giang; - Nhà Tạm giữ CA.TPLX; - Cơ quan THA.HS công an TPLX; - CQĐT Công an Tp. Long Xuyên’ - Chi cục THA DS Tp. Long Xuyên; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bộ phận THA. Tòa án; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng; | (đã ký) Nguyễn Thị Hoa |