vanban.org

Bản án 116/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2023. VKSND TP.HCM; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Huỳnh Thanh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2023/HS-ST
Ngày 08-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Dương

2. Bà Lê Thị Hoàng Liễu

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2023/TLST-HS, ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Thanh T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1983 tại Tỉnh Tiền Giang; Nơi thường trú: 9A/3 Nguyễn A, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn M và bà Nguyễn Thị Ánh T; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 21/01/2002, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ra Quyết định số 66/QĐ-UBND đưa vào cơ sở giáo dục 12 tháng về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong ngày 25/4/2003.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2023. (có mặt)

Bị hại: Ông Trần Phước T1, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Số 483A đường Nguyễn Bình, Ấp 4, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1958; Nơi cư trú: 42C đường Trang Tử, Phường 14, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Người làm chứng: Ông Đặng Văn Th, sinh năm 1994; Nơi cư trú: 25/10 ấp Trung Thành 2, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Thanh T làm thuê cho ông Trần Phước T1 tại bãi xe địa chỉ C12/17 Ấp 4, xã B, huyện B. Vào khoảng 16 giờ ngày 09/8/2022, T hỏi mượn xe mô tô của ông Đặng Văn Th (cùng làm thuê tại bãi xe) để đi sửa điện thoại nhưng ông Th không đồng ý mà nói T lấy xe mô tô nhãn hiệu Hayate của ông T1 dựng ở bãi xe để cho các công nhân làm phương tiện đi lại chung. Lúc này, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Hayate đi sửa điện thoại nhưng không sửa được nên điều khiển xe mô tô quay trở về bãi xe. Khoảng 20 phút sau, T lén lút điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 68K1-276.46 của ông T1 đang dựng tại bãi xe, chìa khóa cắm sẵn trên xe rời khỏi bãi xe. Ông Th phát hiện T lấy cắp xe mô tô Honda Wave biển số 68K1-276.46 nên gọi điện báo cho ông T1 biết là T đã lấy cắp xe mô tô biển số 68K1-276.46. Biết được sự việc, ông T1 nhắn tin cho T (do không gọi được) yêu cầu trả lại xe mô tô cho mình nhưng T không trả lời. Đến ngày 10/8/2022, T mượn được điện thoại di động của bạn (không rõ lai lịch) và gắn sim của mình vào thì thấy tin nhắn của ông T1, T liền trả lời là T lấy xe đi công việc và hứa sẽ đem xe về trả cho ông T1 trong ngày 10/8/2022. Sau đó, T cắt liên lạc với ông T1. Khoảng vài ngày sau, khi nói chuyện qua điện thoại với cha ruột là ông Huỳnh Văn M, T kể cho ông M việc T đã lấy trộm xe mô tô của ông T1. Theo lời khai của T là sau khi lấy cắp xe đi tìm bạn gái nhưng không gặp. Sau đó, T đi mua rượu rồi đến Công viên Văn Lang thuộc Phường A, Quận B uống rượu một mình và say xỉn, ngủ quên tại đây. Một lúc sau, T tỉnh dậy thì phát hiện xe mô tô biển số 68K1-276.46 đã bị mất trộm nhưng không nói cho ai biết và bỏ đi nhiều nơi, đồng thời, nói ông M liên lạc với ông T1 để bồi thường tiền.

Ngày 15/8/2022, do không liên lạc được với T, không thấy T đem xe về trả nên ông Trần Phước T1 đã đến Công an xã Bình Hưng trình báo T lấy cắp xe mô tô như đã nêu trên. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để điều tra, xử lý.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 3489/KL-HĐĐGTS ngày 02/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Chánh xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 68K1-276.46 trị giá 16.240.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Huỳnh Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của bị hại, nhân chứng, người liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 112/CT-VKSBC ngày 28/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Bị cáo Huỳnh Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo không tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) tù; Về dân sự: Ông Trần Phước T1 đã được bồi thường số tiền 15.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét. Về vật chứng: 01 Căn cước công dân mang tên Huỳnh Thanh T do ông Huỳnh Văn M giao nộp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã trả lại cho ông M nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

Ngày 09/8/2022 tại địa chỉ C12/17 Ấp 4, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Huỳnh Thanh T thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 68K1-276.46 trị giá 16.240.000 đồng của ông Trần Phước T1. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Huỳnh Thanh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường họp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tác động gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại và được bị hại làm đơn bãi nại nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân từng bị đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi “Cố ý gây thương tích” nên cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Phước T1 đã được cha ruột của bị cáo là ông Huỳnh Văn M bồi thường số tiền 15.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 Căn cước công dân mang tên Huỳnh Thanh T do ông Huỳnh Văn M giao nộp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã trả lại cho ông M nên không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2023.

3. Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Huỳnh Thanh T chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo Huỳnh Thanh T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ