vanban.org

Bản án 116/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích H đối với ông Ngô Tấn P về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Bà Nguyễn Thị Bích H được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Ngô Nguyễn Kim N, sinh ngày 19/5/2014 sau khi ly hôn. Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà H không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích H đối với ông Ngô Tấn P về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 7 năm 2023
V/v “Tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Yến - Ông Đặng Hữu Tấn

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Ngọc Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 241/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 278/2023/QĐST-HN, ngày 03 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1974.

Nơi cư trú: phường BK, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Ngô Tấn P, sinh năm 1970

Nơi cư trú: phường ML, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H trình bày:

Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 487/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2020 giữa bà và ông Ngô Tấn P thì con chung tên Ngô Nguyễn Kim N, sinh ngày 19/5/2014 giao cho ông P nuôi dưỡng, nhưng do điều kiện làm ăn của ông P thương xuyên đi lại nên từ ngày 01/12/2020 đến nay con chung do bà chăm sóc, nuôi dưỡng. Để ổn định cuộc sống của Kim N, bà yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Quá trình giải quyết vụ án ông Ngô Tấn P mặc dù được tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H. Tại phiên tòa được mở lần thứ hai ông P vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của đương sự và đề xuất việc giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng quy định tại khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các văn bản tố tụng được tống đạt, niêm yết đúng quy định tại các Điều 171, 173, 175, 177 và 179 BLTTDS 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về xét xử vụ án. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao cháu Ngô Nguyễn Kim N cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

. Bà H tranh chấp với ông P yêu cầu Tòa án giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Ông P có nơi cư trú tại phường ML, thành phố Long Xuyên nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng ông P vắng mặt không có lý do, bà H không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Ngô Tấn P.

. Về nội dung:

Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 487/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2020 giữa bà và ông Ngô Tấn P thì con chung của bà và ông P tên Ngô Nguyễn Kim N, sinh ngày 19/5/2014 giao cho ông P chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, do điều kiện làm ăn của ông P nên từ ngày 01/12/2020 đến nay con chung Kim N do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Để ổn định cuộc sống của con chung, bà yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Quá trình tố tụng ông Ngô Tấn P vắng mặt. Theo Phiếu yêu cầu xác minh của Tòa án tại Công an phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên ngày 10/5/2023 thể hiện: Đương sự Ngô Tấn P, sinh năm 1970 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường ML, thành phố Long Xuyên. Do ông P vắng mặt, Tòa án thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông P biết nhưng ông P vẫn không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do bà H cung cấp, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc có yêu cầu nhằm phản đối yêu cầu khởi kiện của bà H là ông P đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Để quyết định người được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử cần xem xét nguyện vọng, quyền lợi về mọi mặt của con, điều kiện của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy theo quyết định thuận tình ly hôn thì ông P được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, nhưng thực tế sau khi ly hôn thì con chung do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng từ ngày 01/12/2020 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, ông P vắng mặt không có ý kiến đối với tranh chấp của bà H, con chung có nguyện vọng được sống cùng bà H.

Về khả năng điều kiện kinh tế trong việc nuôi con, xét thấy theo đơn xin xác nhận lương của bà H được Công ty TNHH Một thành viên A xác nhận từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 02 năm 2023 bà H nhận lương mỗi tháng 120.000.000 đồng. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà H được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Ngô Nguyễn Kim N như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, bà H trực tiếp nuôi con có công việc, thu nhập đủ khả năng lo cho con không yêu cầu ông P cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà H phải tạo điều kiện cho ông P được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Bà H trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, vì lợi ích của con ông P, bà H được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chung.

. Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích H đối với ông Ngô Tấn P về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Bà Nguyễn Thị Bích H được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Ngô Nguyễn Kim N, sinh ngày 19/5/2014 sau khi ly hôn.

Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà H không yêu cầu.

Bà H phải tạo điều kiện cho ông P được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Bà H trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung trên cơ sở lợi ích của con, ông P, bà H được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001724, ngày 05/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

5. Quyền kháng cáo:

Bà H có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Ông P không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ