vanban.org

Bản án 116/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Hợp đồng góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 116/2023/DS-ST

Ngày: 29/06/2023

HUYỆN CM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc V/v tranh chấp “Hợp đồng dân sự về hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Thiện Lai; 2. Ông Võ Lâm Sơn. - Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền, Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng dân sự về hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2023/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 392/2023/QĐST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Phi Y, sinh năm 1966; nơi cư trú: số 09, ấp PH1, xã KT, huyện CM, tỉnh An Giang (có mặt). 2. Bị đơn: Bà Ngô Thị Trúc M, sinh năm 1983, nơi cư trú: tổ 7, ấp PT2, xã KA, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn bà Võ Thị Phi Y trình bày: Do quen biết nên bà có tham gia 04 dây hụi do bà M làm chủ cụ thể như sau: - Dây hụi thứ nhất: Hụi 3.000.000 đồng, khui ngày 30/7/2016al, , hụi gồm 27 hụi viên, bà tham gia 01 phần, tên trong giấy hụi “bà Út Thịnh”. Dây hụi này bà chầu được 26 lần, tổng số tiền 78.000.000 đồng. - Dây hụi thứ hai: Hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 08/10/2016al gồm 25 hụi

viên, bà có tham gia 01 phần, tên trong giấy hụi là bà Út Thịnh. Dây hụi này bà chầu được 24 lần, với số tiền 120.000.000 đồng. - Dây hụi thứ ba: Hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 25/7/2017al, gồm 25 hụi viên, bà tham gia 01 phần, tên trong giấy hụi là bà Út Thịnh. Dây hụi này bà chầu được 17 lần với số tiền 34.000.000 đồng. - Dây hụi thứ tư: Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 15/4/2017al, gồm 30 hụi viên bà tham gia 01 phần, tên trong giấy hụi là bà Út. Dây hụi này bà chầu được 14 lần với số tiền 28.000.000 đồng. Tổng cộng 04 dây hụi trên bà đã chầu cho bà Ngô Thị Trúc M số tiền 260.000.000 đồng. Trước đây, khoảng tháng 10 năm 2022 bà có khởi kiện bà M yêu cầu trả số tiền hụi 260.000.000 đồng. Bà M thừa nhận nợ bà số tiền hụi trên đồng thời xin bà cho thời gian đến ngày 25/02/2023 sẽ trả hết nợ cho bà. Tuy nhiên đến hẹn bà M không trả. Nay bà yêu cầu bà Ngô Thị Trúc M trả cho bà tiền nợ hụi 260.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất. Bị đơn, bà Ngô Thị Trúc M đã được tòa án tống đạt đã được Tòa án triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà vắng mặt không lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của bà về nội dung đơn khởi kiện của bà Y. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. * Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa. Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa. * Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: - Đối với nguyên đơn: Bà Võ Thị Phi Y từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. - Đối với bị đơn: Bà Ngô Thị Trúc M từ khi thụ lý vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử đã tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về tính lãi suất, do bà Lan không yêu cầu nên không đề cập đến. * Về hướng giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự, đề xuất: - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Phi Y. - Buộc bà Ngô Thi Trúc M có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Phi Y số tiền nợ hụi 260.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: [1.1] Bà Võ Thị Phi Y khởi kiện bà Ngô Thị Trúc M tranh chấp về hợp đồng. Bà M có nơi cư trú tại ấp Phú Thượng 2, xã Kiến An, huyện CM, tỉnh An Giang. Căn cứ các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. [1.2] Bà Ngô Thị Trúc M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án. [2]. Về nội dung: Bà Võ Thị Phi Y cho rằng do chỗ quen biết nên bà có tham gia 04 dây hụi do bà M làm chủ cụ thể: [2.1]. Dây hụi thứ nhất: Hụi 3.000.000 đồng, khui ngày 30/7/2016al, hụi gồm 27 hụi viên, bà tham gia 01 phần, tên trong giấy hụi “bà Út Thịnh”. Dây hụi này bà chầu được 26 lần với số tiền 78.000.000 đồng. [2.2]. Dây hụi thứ hai: hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 08/10/2016al gồm 25 hụi viên, bà có tham gia 01 phần, tên trong giấy hụi là bà Út Thịnh. Dây hụi này bà Y chầu được 24 lần với số tiền 120.000.000 đồng. [2.3]. Dây hụi thứ ba: Hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 25/7/2017al, gồm 25 hụi viên, bà tham gia 01 phần, tên trong giấy hụi là bà Út Thịnh. Dây hụi này bà Y chầu được 17 lần với số tiền 34.000.000 đồng. [2.4]. Dây hụi thứ tư: Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 15/4/2017al, gồm 30 hụi viên bà tham gia 01 phần, tên trong giấy hụi là bà Út. Dây hụi này bà Y chầu được 14 lần với số tiền 28.000.000 đồng. [3]. Tổng cộng 04 dây hụi trên bà M nợ bà Y số tiền 260.000.000 đồng. Nay bà Y yêu cầu bà Ngô Thị Trúc M có trách nhiệm trả cho bà tiền nợ hụi 260.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất. [4]. Xét thấy, bà Võ Thị Phi Y khởi hiện bà Ngô Thị Trúc M yêu cầu trả tiền nợ hụi 260.000.000 đồng, căn cứ khởi kiện của bà Y là các giấy hụi ngày 30/7/2016âl, ngày 08/10/2016âl, ngày 14/4/2017âl và ngày 25/7/2017âl và biên bản hòa giải ngày 25/11/2022, thể hiện bà Y có tham gia chơi hụi cùng các hụi viên khác với tên gọi “ Bà út Thịnh” và “ Bà Út” do bà M làm chủ. Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao dịch tham gia chơi hụi giữa bà M và bà Y được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận. Mặc dù quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà Ngô Thị Trúc M vắng mặt. Tuy nhiên, bà Y yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ trong hồ sơ bà khởi kiện trước đây đối với bà M. Đồng thời Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án số 282/2022/TLST- DS, ngày 17/10/2022 giữa nguyên đơn bà Võ Thị Phi Y với bị đơn bà Ngô Thị Trúc M. Thấy rằng, tại biên bản ghi lời khai bà M ngày 25/11/2022 và biên bản

hòa giải ngày 25/11/2022 của Tòa án thể hiện bà M thừa nhận đang nợ bà Y số tiền hụi 260.000.000 đồng và thỏa thuận đến ngày 25/02/2023 trả hết nợ cho bà Y nhưng đến nay bà M vẫn không thực hiện. Do đó, có căn cứ xác định bà M hiện nay còn nợ bà Y số tiền nợ hụi 260.000.000 đồng nên bà Y khởi kiện bà M yêu cầu trả số tiền nợ hụi nêu trên là có căn cứ phù hợp phù hợp với Điều 471 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. [4]. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay bà Y không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. [5] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227, 235 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; - Điều 471 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Phi Y. - Buộc bà Ngô Thị Trúc M có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Phi Y tiền nợ hụi 260.000.000 (hai trăm sáu mươi triệu) đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Về án phí: - Bà Ngô Thị Trúc M phải chịu 13.000.000 (mười ba triệu) đồng án phí dân sư sơ thẩm. - Bà Võ Thị Phi Y được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 6.500.000 (sáu triệu trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0013422 ngày 30/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử

phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ