vanban.org

Bản án 116/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 11/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 5 tháng 13 ngày về tội “ Trộm cắp tài sản” Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giữ,tạm giam về tội phạm khác Căn cứ khoản 1 điều 323, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn M H 8 ( Tám ) tháng tù về tội “tiêu thụ tài sản do người khác ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 5 tháng 13 ngày về tội “ Trộm cắp tài sản” Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
Toµ ¸n nh©n d©n
QuËn hoang mai
Thµnh phè Hµ néi
-----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116 /2022/HSST
Ngày 11 tháng 5 năm 2022
nh©n danh

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thuý Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Văn Vỹ

2. Bà Nguyễn Anh Thư

-Thư ký phiên toà :Ông Đỗ Duy Trung - Cán bộ Toà án nhân dân

quận Hoàng Mai– Thành phố Hà Nội.

-Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai - Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59 /2021 / TLST - HS ngày 14 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 82 /2022/QĐXXST – HS ngày 5 tháng 4 năm 2022 và quyết định hoãn phiên toà số: 80 / QĐHPT - ST ngày 20 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo:

Nguyễn Văn H -SN: 1996;HKTT: thôn Cao Đồng, xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang;Chỗ ở: Giáp Bát, Hoàng Mai, Hà Nội;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;Nghề nghiệp: Tự do;Trình độ văn hóa: 09/12;Bố đẻ: Nguyễn Văn B (Sinh năm: 1970);Mẹ đẻ: Nguyễn Thị D (Sinh năm: 1971);Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình.Vợ: Trần Hồng T (Sinh năm: 1995);Bị cáo có 01 người con, sinh năm 2019.TA, TS: Không; Bắt khẩn cấp ngày 29/11/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – CATP Hà Nội (có mặt tại phiên toà )

Nguyễn M H -SN: 1987;HKTT:, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội;Chỗ ở: phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;Nghề nghiệp: Tự do;Trình độ văn hóa: Đại học;Bố đẻ: Nguyễn Văn T (Sinh năm: 1954);Mẹ đẻ: Đỗ Thị Y (Sinh năm: 1958);Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình.Vợ: Lê Thu H (Sinh năm: 1991);Bị cáo có 02 người con, sinh năm 2017 và 2020.TA, TS: Không;Đầu thú ngày 29/11/2021, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú( có mặt tại phiên toà )

Nguyễn Văn M -SN: 1993;HKTT: xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa;Chỗ ở: phường Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không;Nghề nghiệp: Tự do;Trình độ văn hóa: 12/12;Bố đẻ: Nguyễn Văn M (Sinh năm: 1961);Mẹ đẻ: Hà Thị Q (Sinh năm: 1967);Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình;TA, TS: Không;Đầu thú ngày 29/11/2021, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ( có mặt tại phiên toà )

Người bị hại : Anh Vũ M T - sinh năm: 1996, HKTT: Tổ dân phố Mai Diêm, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ( vắng mặt tại phiên toà )

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 10 ngày 25/11/2021 anh Vũ M T (Sinh năm: 1996, HKTT: thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) đến CAP Giáp Bát trình báo vụ việc: Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 24/11/2021, anh T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen – vàng – đồng, BKS: 17B6 - 546.37, SK: RLHJF6331LZ530182; SM: JF94E0161099 về nhà trọ tại địa chỉ 16B5 ngõ 6 Kim Đồng, phường Giáp Bát và để xe tại tầng 1 bên trong nhà, không khoá cổ, khoá càng. Sau đó anh T lên phòng tại tầng 03 nghỉ nghơi. Đến khoảng 7 giờ 15 phút ngày hôm sau, anh T xuống lấy xe đi làm thì phát hiện chiếc xe trên của mình bị mất trộm, cửa nhà không có dấu hiệu bị cậy phá khoá.

Ngày 25/11/2021, anh Triệu Văn T (SN: 1993, HKTT: Số 5 ngách 26 ngõ 637 Trương Định, Thịnh Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội) là người thuê lại và quản lý nhà trọ tại số nhà 16B5 ngõ 6 Kim Đồng, Giáp Bát, Hoàng Mai, Hà Nội cung cấp cho Cơ quan CSĐT – CAQ. Hoàng Mai 01 đoạn video, ghi lại hình ảnh của Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản ngày 24/11/2021.

Ngày 29/11/2021, Cơ quan CSĐT – CAQ. Hoàng Mai đã triệu tập Nguyễn Văn H. Tại Cơ quan điều tra, H đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản, sau đó bán cho Nguyễn M H và Nguyễn Văn M. Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Văn H: 01 điện thoại Iphone 6 màu đen bạc, Imei: 355432075318299 (Đã qua sử dụng) để làm rõ.

Ngày 29/11/2021, Nguyễn M H và Nguyễn Văn M đến Cơ quan CSĐT – CAQ. Hoàng Mai đầu thú. Nguyễn M H và Nguyễn Văn M khai nhận hành vi phạm tội của mình. Cơ quan CSĐT đã thu giữ của Nguyễn M H: 01 điện thoại Pixel 3A số Imei: 359678090108481 (Đã qua sử dụng); Thu giữ của Nguyễn Văn M: 01 xe máy nhãn hiệu Honda BKS: 98E1-671.47 (Đã qua sử dụng), 01 đoạn dây dù màu xanh dài khoảng 2-3m, bản rộng 02cm (Đã qua sử dụng), 01 điện thoại Samsung Galaxy S10 Imei: 355375101297718 (Đã qua sử dụng).

Cùng ngày 29/11/2021, Cơ quan CSĐT tiến hành dẫn giải M xác định vị trí gửi chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade BKS: 17B6-546.37 là tại tầng sảnh tòa nhà CT18 Thông tấn xã Việt Nam, phường Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội; Cơ quan CSĐT đã tiến hành lập biên bản và thu giữ của M chiếc xe này.

Ngày 27/12/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai có Kết luận định giá tài sản số 239 đối với chiếc xe Honda Airblade BKS: 17B6-546.37 (nêu trên) có trị giá 35 triệu đồng.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H, Nguyễn M H và Nguyễn Văn M cùng khai nhận: Nguyễn Văn H thuê trọ tại số 16B5 ngõ 6 Kim Đồng, Giáp Bát, Hoàng Mai, Hà Nội (cùng nhà trọ với anh T). Do cần tiền trả nợ nên Văn H đã nảy sinh ý định trộm cắp xe máy của những người ở cùng khu trọ. Trước khi thực hiện hành vi trộm cắp thì khoảng 19h ngày 24/11/2021, Văn H dùng tài khoản Facebook “Đinh Nam” đăng nội dung “cần bán xe máy AIRBLADE 2021 không giấy tờ” trên hội mua bán xe máy KGT Hà Nội (tức là xe không giấy tờ). Khoảng 20h15’ ngày 24/11/2021, Nguyễn M H dùng tài khoản Facebook “Nguyễn M H” truy cập vào trang “hội mua bán xe máy KGT Hà Nội” (tức là xe không giấy tờ) thì thấy nội dung của tài khoản Facebook “Đinh Nam” của Văn H đăng “Mới nhẩy được con AB 2021 mới cứng, anh em nào cần liên hệ gặp mặt trực tiếp, giá siêu mềm”. M H nhắn tin cho Văn H qua Messenger để hỏi về xe. Văn H gửi hình ảnh xe máy AIRBLADE màu đen (Chụp ngang xe, không nhìn thấy Biển kiểm soát) và nói qua điện thoại với M H là xe này trộm cắp được, bán với giá 13.000.000 đồng và hẹn gặp nhau tại cổng bến xe Giáp Bát lúc 23h ngày 24/11/2021 để mua bán chiếc xe trên. Sau khi thỏa thuận xong, M H gọi điện trao đổi với Nguyễn Văn M để hẹn đi xem xe cùng, M đã nhận thức được sẽ đi xem xe trộm cắp, nên sau đó, M H và M đã chuẩn bị trước 01 tua vít và 01 đoạn dây (khoảng 3m2, màu xanh) mang đi để xem xe và kéo xe về.

Khoảng 20 giờ ngày 24/11/2021, Văn H từ phòng trọ 302 đi xuống tầng 1 để quan sát xem có ai không và quan sát thấy camera đặt ở cửa hướng quay vào cầu thang. Sau đó Văn H đi lên tầng 6 nhà trọ (sân phơi quần áo) để lấy kéo. Đến 21h15 cùng ngày, Văn H cầm kéo đi xuống tầng 1 cắt dây camera. Văn H sang phòng trọ đối diện của anh Phạm Quang Việt (SN: 2002, HKTT: Số 10 Lô 114 Công nhân Dư Hàng, Dư Hàng, quận Lê Chân, Hải Phòng) để mượn chìa khoá cửa cuốn tầng 1 và đi ra ngoài. Đến 23h20 phút cùng ngày, Văn H thay bộ quần áo khác (đã chuẩn bị từ trước) tại chỗ máy xúc gần nhà trọ và quay lại nhà trọ mở cửa cuốn để lẻn vào tầng 1 nhà trọ. Tại đây Văn H thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, BKS: 17B6 - 546.37 của anh T để gần cầu thang, đầu xe quay vào trong, đuôi xe quay ra ngoài. Văn H kiểm tra thấy xe không khoá càng, không khoá cổ nên dắt chiếc xe máy trên ra khỏi nhà trọ, dắt xe ra đầu ngõ 897 Giải Phóng gặp M H và M đang chờ sẵn cùng chiếc xe máy nhãn hiệu AIRBLADE màu đen - đỏ, BKS: 98E1 - 671.47. Tại đây, Văn H nói với M H và M biết là xe trộm cắp được, không có đăng ký xe, không có chìa khoá xe. M H và M kiểm tra qua chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, BKS: 17B6 - 546.37 và thấy xe còn mới, mặc dù biết đó là xe trộm cắp và không giấy tờ nhưng vẫn đồng ý mua chiếc xe trên với giá 12.500.000 đồng. M H trả đủ 12.500.000 đồng tiền mặt cho Văn H, sau đó buộc dây dù vào đuôi xe BKS: 98E1-647.71 và đầu xe BKS: 17B6-546.37; M H điều khiển xe máy AIRBLADE, BKS: 98E1 - 671.47 kéo chiếc xe máy Honda Air Blade, BKS: 17B6 - 546.37 vừa mua được (M cầm lái) về điểm trông xe cạnh nhà của M H tại số 9 ngõ 111 Trường Chinh, Phương Liệt, Thanh Xuân, Hà Nội để gửi xe. Sau đó M H trả cho M 500.000 đồng tiền công đi cùng kéo xe.

Khoảng 10 giờ ngày 25/11/2021, M H gọi điện cho thợ khoá đến để đánh lại chìa khoá mới (khoá Smart key) và gọi M đến cùng để kiểm tra lúc thợ đánh khoá xe do M H không có nhà. Sau khi thợ đánh chìa khoá xong thì đưa cho M cầm về 415 Nguyễn Xiển. Đến 17h ngày 25/11/2021, M H đi làm về qua 415 Nguyễn Xiển gặp M để lấy chìa khoá xe máy, sau đó M H cầm chìa khoá xe vừa đánh được về nhà mở và đề nổ xe máy Honda Air Blade, BKS: 17B6 - 546.37 rồi đi đến xưởng của M tại 415 Nguyễn Xiển để gửi xe máy tại xưởng. Đến 20h 30’ ngày 26/11/2021, M H đi xe máy khác đến 415 Nguyễn Xiển gặp M và bảo M cùng đi gửi xe máy Honda Air Blade màu đen, BKS: 17B6 - 546.37 do Văn H đang liên hệ để chuộc lại xe máy. M H và M đi cùng đến chung cư CT18 Thông tấn xã Việt Nam, Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội để gửi xe máy Air Blade màu đen, BKS: 17B6 - 546.37, M là người vào gửi xe máy và lấy vé xe. Trước khi ra về, M H nói với M nếu Văn H liên hệ chuộc xe thì hẹn gặp một chỗ khác, lấy đủ tiền và đưa vé xe cho Văn H tự đến CT18 Thông tấn xã Việt Nam, Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội để lấy xe máy.

Đối với chiếc xe máy Honda AirBlade BKS: 17B6-546.37 của anh Vũ M T bị Nguyễn Văn H lấy trộm ngày 24/11/2021, đây là tài sản hợp pháp của anh T. Hiện Cơ quan CSĐT – CAQ. Hoàng Mai đã trao trả chiếc xe này cho anh T, anh T nhận lại tài sản, và không có ý kiến, yêu cầu gì về dân sự.

Đối với chiếc xe máy Honda AirBlade BKS: 98E1-671.47 (là chiếc xe M H và M dùng để đi đến địa điểm giao dịch với Văn H, và dùng để kéo chiếc xe mua của Văn H về), đây là chiếc xe đăng ký chủ sở hữu mang tên chị Giáp Kim Sinh, do chị Sinh mua và đăng ký vào tháng 8/2019. Đến đầu năm 2020, chị Sinh cho bạn mình là Nguyễn Văn M (nêu trên) mượn xe để dùng làm phương tiện đi lại. Chị Sinh không biết và không tham gia gì vào quá trình phạm tội của M. Hiện Cơ quan CSĐT – CAQ. Hoàng Mai đã trao trả chiếc xe này cho chị Sinh, chị Sinh nhận lại tài sản, và không có ý kiến, yêu cầu gì về dân sự.

Đối với 03 chiếc điện thoại gồm: 01 điện thoại Iphone 6 màu đen bạc, Imei: 355432075318299 thu giữ của Nguyễn Văn H, 01 điện thoại Pixel 3A số Imei: 359678090108481 thu giữ của Nguyễn M H và 01 điện thoại Samsung Galaxy S10 Imei: 355375101297718 thu giữ của Nguyễn Văn M: Đây là điện thoại cá nhân của các bị can, các bị dùng liên lạc với nhau để thỏa thuận và hẹn thời gian, địa điểm giao dịch về hành vi phạm tội trên.

Đối với sợi dây dù màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn M nêu trên, đây là sợi dây do Nguyễn Văn M tự mua để sử dụng từ trước, được các bị can sử dụng để buộc kéo chiếc xe mua của Nguyễn Văn H ngày 24/11/2021.

Đối với chiếc camera bị Nguyễn Văn H cắt dây ngày 24/11/2021, đây là tài sản của anh Lê Phong Thắng (SN: 1992, HKTT: Xóm 11, xã Hải Trung, Hải Hậu, Nam Định) là chủ nhà trọ số 16B5 ngõ 6 Kim Đồng, Giáp Bát, Hoàng Mai, Hà Nội. Tuy nhiên, do chỉ bị đứt dây và có thể sửa chữa được, camera không bị hư hỏng gì, anh Thắng không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Tại bản cáo trạng số 57/ CT- VKS - HM ngày 9 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 . Truy tố bị cáo Nguyễn M H và Nguyễn Văn M về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 điều 323 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như tại cơ quan điều tra Đại diện Viện kiểm sát kết luận phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; các bị cáo Nguyễn M H và Nguyễn Văn M về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 điều 323 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 ; điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 5 đến 6 tháng tù Áp dụng điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn M H và Nguyễn Văn M từ 8 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 16 đến 24 tháng Về xử lý vật chứng : Tịch thu xung công 3 điện thoại của các bị cáo vì có liên quan đến hành vi phạm tội Tịch thu tiêu huỷ một sợi dây dù màu xanh Về trách nhiệm dân sự : Người bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu về dân sự nên không xét Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 12.500.000 đồng

Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai - thành phố Hà Nội , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi , quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Vậy có đủ cơ sở kết luận :

Ngày 24/11/2021, tại nhà trọ số 16B5 ngõ 6 phố Kim Đồng, phường Giáp Bát, Hoàng Mai, Hà Nội, Nguyễn Văn H đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe máy Honda AirBlade BKS: 17B6-546.37 của anh Vũ M T trị giá 35.000.000 đồng. Cùng ngày, Nguyễn Văn H thông qua mạng Facebook đã hẹn gặp Nguyễn M H và Nguyễn Văn M đến đầu ngõ 897 Giải Phóng, thuộc phường Giáp Bát, Hoàng Mai, Hà Nội để xem và bán chiếc xe Nguyễn Văn H vừa lấy trộm. Tại đây, Nguyễn M H và Nguyễn Văn M mặc dù biết rõ đây là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn thống nhất mua chiếc xe với giá 12.500.000 đồng, tài sản đã thu hồi và trả lại cho bị hại.

Hành vi của các bị cáo đã vi phạm pháp luật. Đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tại phiên toà các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “ Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các bị cáo Nguyễn M H và Nguyễn Văn M phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai - Thành phố Hà Nội truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật . Xét thấy hành vi phạm tội của Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội nên thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử nhận thấy nhân thân bị cáo Nguyễn Văn H chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo hợp tác tích cực với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án. Gia đình bị cáo có công với cách mạng. Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được trả lại cho người bị hại , người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn M H về nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo hợp tác tích cực với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án. Các bị cáo ra đầu thú tại cơ quan công an sau khi thực hiện hành vi phạm tôi. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Xét thấy các bị cáo Nguyễn M H, Nguyễn Văn M có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đều có chỗ ăn ở ổn định nên thấy không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo hưởng mức án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục và cải tạo đối với các bị cáo. Về hình phạt bổ sung : Xét thấy bị cáo về điều kiện kinh tế còn khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Về trách nhiệm dân sự : Người bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu về dân sự nên không xét Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 12.500.000 đồng Về xử lý vật chứng : Tịch thu xung công 3 điện thoại di động của các bị cáo vì có liên quan đến hành vi phạm tội, tịch thu tiêu huỷ một sợi dây dù màu xanh Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 , điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 5 tháng 13 ngày về tội “ Trộm cắp tài sản” Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giữ,tạm giam về tội phạm khác Căn cứ khoản 1 điều 323, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn M H 8 ( Tám ) tháng tù về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Giao bị cáo cho UBND phường Phương Liệt , quận Thanh Xuân , TP Hà Nội quản lý giáo dục trong thời hạn thử thách của bản án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục, bị cáo được thực hiện theo điều 69 Luật thi hành án hình sự

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 8 ( Tám ) tháng tù về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Giao bị cáo cho UBND phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, Hà Nội quản lý giáo dục trong thời hạn thử thách của bản án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục, bị cáo được thực hiện theo điều 69 Luật thi hành án hình sự

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

*Về trách nhiệm dân sự : Người bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu về dân sự nên không xét Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 12.500.000 đồng

*Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu xung công một điện thoại Iphone 6 màu bạc số Imei : 355432075318299, một điện thoại di động Sam sung Galaxy S 10 có số imei 255375101297718, một điện thoại Pixel 3 A có số Imei : 359678090108481 đều đã qua sử dụng của các bị cáo Tịch thu tiêu huỷ một sợi dây dù màu xanh Vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai -Thành phố Hà Nội theo phiếu nhập kho vật chứng số NK 2022 - 0121 ngày 18/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai – TP Hà Nội * Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 nghị quyết 326/2016 /UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn M H, Nguyễn Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. * Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331,333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ