- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thanh Nhân, Lập, Em và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh th…"
- Tòa quyết gì? Hủy bản án Hình sự sơ thẩm số 17/2022/HS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Tòa án N dân huyện C và đình chỉ vụ án.
- Căn cứ chính? Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2022/HS-PT Ngày: 29 - 7 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh
Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Hai
Ông Đào Chí Keo
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dự – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 115/2022/TLPT-HS ngày 06 tháng 6 năm 2022 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2022/HS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang.
1. Huỳnh Thanh N, sinh năm 1978; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp Thị, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nGệp: thợ sửa máy; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn Ngọc E, sinh năm 1960 (bị cáo trong cùng vụ án) và bà Nguyễn Thị Tươi, sinh năm 1964; Bị cáo có vợ là Phạm Thị Kim Linh, có 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Huỳnh Văn Thành L (Tám Xụi), sinh năm 1969; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp Thị, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nGệp: thợ sửa máy; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo Phật giáo Hoà Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn N1 (chết) và bà Ngô Thị C, sinh năm 1934; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Q, sinh năm 1972; có 03 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Huỳnh Văn Ngọc E, sinh năm 1960; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp Thị, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nGệp: thợ sửa máy; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn N1 (chết) và bà Ngô Thị C, sinh năm 1934; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1964 (đã ly hôn) có 02 con, vợ sau Nguyễn Thị Út N2; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Huỳnh Văn Hậu A, sinh năm 1992; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp Thị, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nGệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn L (chết) và bà Trần Thị Q (chết); Bị cáo chưa L gia đình; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5. Nguyễn Lê Hữu G (NG), sinh năm 2000; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp Tây Thượng, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nGệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Lê Thị Kim Đ (chết); Bị cáo chưa L gia đình; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
6. Huỳnh Nguyễn Đức H, sinh năm 1997; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp Thị, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nGệp: tài xế; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo Phật giáo Hoà Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn Thành L (bị cáo trong cùng vụ án) và bà Nguyễn Thị Quý, sinh năm 1972; Bị cáo có vợ là Cao Thị Thanh L, sinh năm 1997, có 01 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Nguyễn Lê Hữu G (NG), sinh năm 2000; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp Tây Thượng, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
- Huỳnh Văn Thành L (Tám Xụi), sinh năm 1969; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp Thị, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thanh N: Bà Văng Thị V – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh An Giang - có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn Ngọc E: Ông Phạm Minh Tâm – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh An Giang - có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Lê Hữu G (Nghi): ông Nguyễn Văn D – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh An Giang – vắng mặt.
Trong vụ án Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn tranh chấp đất đai, khoảng 06 giờ 30 phút ngày 16/5/2021, Ngô Thị Nguyệt B, Mai Tấn H (con của Bửu), đến Cửa hàng xăng dầu “Ánh Hồng” của Ngô Thị Ánh H tại ấp Thị, xã M để gặp Hồng nói chuyện, thì xảy ra cự cãi. Lúc này, Hiền dùng điện thoại di động quay video lại, thì Nguyễn Lê Hữu G là người làm công ở Cửa hàng xăng dầu “Ánh Hồng” nhìn thấy dùng nón bảo hiểm ném về phía Hiền, nhưng không trúng Hiền, mà trúng vào tay trái của Huỳnh Văn Ngọc E đang ngồi gần đó, nên Ngọc E và G cự cãi, được mọi người can ngăn, Ngọc E đi về nhà cách đó khoảng 20m. Khi này, Huỳnh Văn Thành L (E ruột của Ngọc E) hay tin tìm G hỏi chuyện thì phát sinh cự cãi, thách thức đánh nhau, được can ngăn, L đi về nhà cách đó khoảng 50m. Ngọc E sau khi về nhà, điện thoại cho Huỳnh Thanh N (con ruột của Ngọc E), kêu N và L đến nhà Ngọc E nói lại sự việc trên. L cầm 01 miếng ván gỗ kích thước (108x10x01)cm, N cầm 01 đoạn gỗ tròn dài 1,4m và Ngọc E cầm 01 cây dao bằng kim loại dài 19,1cm, đi đến Cửa hàng xăng dầu“Ánh Hồng” gặp G để nói chuyện, thì hai bên tiếp tục cự cãi. N, Ngọc E đứng bên ngoài chửi, dọa đánh G, được Ngô Bá Tùng (ở cùng xóm) can ngăn, còn L cầm miếng ván gỗ đánh nhiều cái vào người G, thì bị G dùng chân đạp vào người, làm L ngã xuống đất, bị sây sát khuỷu tay phải, G tiếp tục cầm cây dao bằng kim loại trên tay (đã chuẩn bị trước đó) đâm về hướng L, nhưng không trúng, thì bị N cầm đoạn gỗ đánh vào người, G dùng cây dao đánh trả lại, làm đoạn gỗ và cây dao rơi xuống đất. G liền nhặt đoạn gỗ của N làm rơi, cầm trên hai tay đánh trúng vào vùng hông trái của L gây chấn thương ngực kín, gãy xương sườn trái. Khi này, Huỳnh Văn Hậu Anh, Huỳnh Nguyễn Đức H (cháu, con ruột của L) cùng chạy đến, Hậu Anh dùng tay ôm, đánh G; H dùng thanh kim loại (gậy 03 khúc) đánh vào người G; còn N giật lấy đoạn gỗ từ trên tay G, đánh gây thương tích vùng đính - chẩm trái của G, bất tỉnh, thì được Nguyễn Xuân Trúc (chồng của Hồng) can ngăn. G và L được đưa đến Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp cấp cứu, điều trị và có đơn yêu cầu xử lý hình sự, G yêu cầu xử lý các bị cáo đã gây ra thương tích cho G, L yêu cầu xử lý đối với G đã gây ra thương tích cho L.
Quá trình diều tra thu giữ: 01 (một) miếng ván gỗ kích thước (108x10x01)cm; 01(một) đoạn gỗ tròn dài 1,4m; 01(một) cây dao bằng kim loại dài 19,1cm và 01(một) mũ bảo hiểm màu vàng là vật chứng trong vụ án.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 348/21/TgT ngày 18/8/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, xác định: đối với Huỳnh Văn Thành L, Chấn thương ngực kín, gãy xương sườn số IX bên trái, điều trị bảo tồn 02%; Sây sát khuỷu tay phải để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (1,2x0,7)cm 01%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 03%. Kết luận khác: Thương tích do vật tày gây nên.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 349/21/TgT ngày 18/8/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, xác định: đối với Nguyễn Lê Hữu G, Sẹo vùng đính - chẩm trái, kích thước (3x0,4)cm 02%; Vùng cổ, lưng, vai không thương tích tồn tại 00%; Sưng nề cẳng tay trái, không thương tích tồn tại 00%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 02%. Kết luận khác: Thương tích do vật tày gây nên.
G, N, Ngọc E, L, Hậu A, H bị khởi tố để điều tra xử lý.
Tại Cáo trạng số 04/CT-VKSCM ngày 22/02/2022 của Viện kiểm sát N dân huyện C đã truy tố các bị cáo Nguyễn Lê Hữu G, Huỳnh Thanh N, Huỳnh Văn Thành L, Huỳnh Văn Ngọc E, Huỳnh Văn Hậu A, Huỳnh Nguyễn Đức H, về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2022/HS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang đã quyết định:
1. Về tội danh và hình phạt áp dụng:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Lê Hữu G (Nghi), Huỳnh Thanh N, Huỳnh Văn Thành L (Tám Xụi), Huỳnh Văn Ngọc E, Huỳnh Văn Hậu A, Huỳnh Nguyễn Đức H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a, i khoản 1 điều 134; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Hữu G (Nghi) 08 tháng tù (tám tháng). Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Áp dụng điểm a, i khoản 1 điều 134; Điều 38; Điều 17, Điều 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh N 08 tháng tù (tám tháng). Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Thành L (Tám Xụi) 07 tháng tù (bảy tháng). Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Ngọc E 07 tháng tù (bảy tháng). Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Hậu Anh 07 tháng tù (bảy tháng). Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Nguyễn Đức Hoà 07 tháng tù (bảy tháng). Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;
G nhận các bị cáo Huỳnh Thanh N, Huỳnh Văn Thành L, Huỳnh Văn Ngọc E, Huỳnh Văn Hậu A, Huỳnh Nguyễn Đức Hòa đã nộp khắc phục số tiền 4.000.000 đồng theo biên lai thu 0003644 ngày 13/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Nguyễn Lê Hữu G được quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện C để nhận số tiền các bị cáo đã nộp.
Buộc các bị cáo Huỳnh Thanh N, Huỳnh Văn Thành L, Huỳnh Văn Ngọc E, Huỳnh Văn Hậu A, Huỳnh Nguyễn Đức H có nghĩa vụ tiếp tục liên đới bồi thường số tiền 12.400.988 đồng (mười hai triệu bốn trăm nghìn chín trăm tám mươi tám đồng) cho Nguyễn Lê Hữu G (Nghi).
Buộc bị cáo Nguyễn Lê Hữu G (Nghi) có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại L tổng cộng các khoản số tiền 13.589.000 đồng (mười ba triệu năm trăm tám mươi chín nghìn).
Ngày 26/4/2022, bị cáo Huỳnh Thanh N, Huỳnh Nguyễn Đức Hòa, Huỳnh Văn Hậu Anh có đơn kháng cáo xin miễn giảm hình phạt. Riêng Huỳnh Văn Thành L và Huỳnh Văn Ngọc E kháng cáo kêu oan.
Ngày 28/4/2022, bị cáo Nguyễn Hữu G có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo Ngọc E, L, N, Hậu Anh, Đức Hòa đồng thời tăng mức bồi thường.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo xác định Bản án sơ thẩm của Tòa án N dân huyện C xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là không oan và lời khai của các bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm là đúng sự thật.
Viện kiểm sát N dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Hành vi của Nguyễn Lê Hữu G, Huỳnh Văn Thành L, Huỳnh Văn Ngọc E, Huỳnh Văn Hậu A, Huỳnh Nguyễn Đức H, Huỳnh Văn Hậu A đã đủ dấu hiệu định tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Toà án nhân dân huyện C kết án bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và N thân bị cáo, quyết định xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, hậu quả và hành vi phạm tội của bị cáo, có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa hôm nay các bị hại Nguyễn Lê Hữu G, Huỳnh Văn Thành L rút yêu cầu khởi tố vụ án. Do đây là vụ án khởi tố theo yêu cầu của các bị hại, việc các bị hại G, L rút yêu cầu khởi tố là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 155, Điều 359 BLTTHS hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
Người bào chữa cho bị cáo Ngọc E, N tranh luận: Đề nghị HĐXX chấp thuận theo quan điểm Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Các bị cáo làm đơn kháng cáo trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Lê Hữu G vắng mặt nhưng bị cáo vẫn đề nghị Tòa án xét xử nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo xác định bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo là không oan. Các bị cáo xác định những lời khai tại phiên tòa sơ thẩm hoàn toàn phù hợp lời khai của các bị cáo trong suốt quá trình điều tra; phù hợp lời khai bị hại, người làm chứng; phù hợp với Biên bản khám nGệm hiện trường; Bản xác nhận về tình trạng thương tích và phù hợp tang vật thu giữ, phù hợp với cơ chế hình thành thương tích của bị hại. Ngoài ra, còn phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ. Đủ căn cứ xác định: Sáng 16/5/2021, do có mâu thuẫn cự cãi trong vấn đề tranh chấp đất đai nên Nguyễn Lê Hữu G có hành vi dùng nón bảo hiểm ném trúng vào tay trái của Huỳnh Văn Ngọc E, rồi dùng đoạn gỗ là hung khí nguy hiểm, đánh gây thương tích cho Huỳnh Văn Thành L, với tỷ lệ thương tật 03%, bị L yêu cầu khởi tố vụ án hình sự; Huỳnh Thanh N, Huỳnh Văn Thành L, Huỳnh Văn Ngọc E, Huỳnh Văn Hậu Anh, Huỳnh Nguyễn Đức Hòa có hành vi dùng tay, chân, miếng gỗ, thanh kim loại và đoạn gỗ là hung khí nguy hiểm, đánh gây thương tích cho Nguyễn Lê Hữu G, với tỷ lệ thương tật 02%, bị G yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Hành vi của G, N, L, Ngọc E, Hậu Anh, đã đủ dấu hiệu định tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Toà án nhân dân huyện C kết án bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên trước phiên tòa phúc thẩm Huỳnh Văn Thành L đã rút yêu cầu khởi tố truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Lê Hữu G, đồng thời Nguyễn Lê Hữu G rút yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Huỳnh Thanh N, Huỳnh Văn Thành L, Huỳnh Văn Ngọc E, Huỳnh Văn Hậu Anh, Huỳnh Nguyễn Đức Hòa. Xét đây là vụ án khởi tố vụ án theo yêu cầu bị hại, việc các bị hại rút lại yêu cầu khởi tố đối với các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị cưỡng bức, đe dọa nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại đối với bị cáo; vì bị hại đã rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 155 để quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang. Đây không phải là lỗi của cấp sơ thẩm nên các bị cáo không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Giữa các bị cáo, bị hại đã tự nguyện thỏa thuận và thực hiện xong phần bồi thường, không ai yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại số tiền 4.000.000đồng mà bị cáo Huỳnh Thanh N, Huỳnh Văn Thành L, Huỳnh Văn Ngọc E, Huỳnh Văn Hậu Anh, Huỳnh Nguyễn Đức H nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C theo biên lai thu 0003644 ngày 13/4/2022.
. Về án phí phúc thẩm:
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo G và bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
. Xử lý vật chứng: do không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Hủy bản án Hình sự sơ thẩm số 17/2022/HS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Tòa án N dân huyện C và đình chỉ vụ án.
Hoàn trả số tiền 4.000.000đồng (bốn triệu đồng) cho các bị cáo Huỳnh Thanh N, Huỳnh Văn Thành L, Huỳnh Văn Ngọc E, Huỳnh Văn Hậu A, Huỳnh Nguyễn Đức Hòa đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C theo biên lai thu 0003644 ngày 13/4/2022.
Án phí: Bị cáo L và G mỗi người chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) miếng ván gỗ kích thước (108x10x01)cm; 01 đoạn gỗ tròn dài 1,4m; 01 (một) cây dao bằng kim loại dài 19,1cm và 01(một) mũ bảo hiểm màu vàng (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C ngày 28/3/2022).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao (1); - VKSND tỉnh An Giang (2); - TAND huyện C (2); - Công an huyện C (1); - Cục THADS tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện C (1); - Bị cáo (1); - Phòng KTNV và THA (1); - PV 06 (1); - Sở Tư pháp (1); - Văn phòng (2); - Lưu Tòa, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Linh |