vanban.org

Bản án 116/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Th đối với anh Nguyễn H. Chị Trần Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn H.

Về nuôi con: Giao cho chị Th được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 người con chung tên Nguyễn Trần Phát Đ, sinh ngày 10-10-2013 và Nguyễn Trần Ngọc A, sinh ngày 28-12-2019. A H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Đ và cháu A hàng tháng với số tiền 1.500.000 đồng/tháng/01 người con từ th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Th đối với anh Nguyễn H. Chị Trần Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn H.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28-9-2022
V/v “Ly hôn, trA chấp về nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Huy Cường

2. Bà Trần Ánh Nhạn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên tòa: Ông Lương Bá XA- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 384/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2022 về việc “Ly hôn, trA chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Th, sinh năm 1993

Địa chỉ: Tổ 3, ấp Đ, xã TĐ, huyện G, tỉnh T;

Tạm trú: Ấp Gi, xã A, thị xã BC, tỉnh B.

- Bị đơn: Anh Nguyễn H, sinh năm: 1977

Địa chỉ: Tổ 3, ấp ĐL, xã TĐ, huyện G, tỉnh T.

Chị Th và A H đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13-6-2022, bản tự khai và biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Trần Thị Th trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn H chung sống với nhau từ năm 2012, có qua tìm hiểu trước, hôn nhân tự nguyện. Chị và anh H không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Đức.

Sau khi kết hôn, chị và anh H được mẹ chồng cho đất nên vợ chồng xây dựng nhà ở và chung sống tại ấp ĐL, xã TĐ, huyện G, tỉnh T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn trở nên trầm trọng từ tháng 3-2022. Nguyên nhân do mâu thuẫn về tiền bạc và bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Anh H không phụ giúp tiền để lo cho con cái và các chi phí sinh hoạt trong nhà, chị có góp ý nhưng anh H vẫn không thay đổi. Tháng 3-2022, chị về nhà cha mẹ ruột tại tỉnh Bình Dương sinh sống nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại nhưng anh H không muốn níu kéo quan hệ hôn nhân của anh chị. Hiện tại, tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh H.

Về nuôi con: Chị và anh H có 02 người con chung tên Nguyễn Trần Phát Đ, sinh ngày 10-10-2013 và Nguyễn Trần Ngọc A, sinh ngày 28-12-2019. Hiện hai cháu đang ở cùng với anh H. Tuy nhiên, hằng ngày cháu Đ và cháu A do em ruột chị là anh Trần Xuân Ng chăm sóc. Chị yêu cầu được quyền nuôi dưỡng, giáo dục cả hai người con chung, chị yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chị và anh H chung sống có tài sản chung là 01 căn nhà trên phần đất của mẹ chồng đứng tên tại ấp ĐL, xã TĐ, huyện G, tỉnh T nhưng chị không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: A chị không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại anh chị nên chị không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nộp cho Tòa án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, chị Th đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, còn anh H thì chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Th đối với anh Nguyễn H;

Về con chung: giao cho chị Th được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Trần Phát Đ, sinh ngày 10-10-2013 và Nguyễn Trần Ngọc A, sinh ngày 28-12-2019. Buộc anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với số tiền 1.500.000 đồng/tháng/01 người con cho đến khi cháu Đ và cháu A thành niên và có khả năng lao động, tự sinh sống được.

Về tài sản chung và nợ chung: Aanh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Th có đơn xin vắng mặt, còn bị đơn anh Nguyễn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến Hnh xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Trần Thị Th và anh Nguyễn H là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị Th thì nguyên nhân chính là do mâu thuẫn về tiền bạc, anh H không phụ giúp tiền để chị nuôi con và các chi phí sinh hoạt trong gia đình. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 3-2022 đến nay. Từ khi chị Th nộp đơn ly hôn đến nay, mặc dù có thông báo cho anh H biết và anh H đã được Tòa án triệu tập để thu thập chứng cứ, tham gia hòa giải và xét xử nhưng anh H vẫn vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Th. Từ các chứng cứ trên cho thấy, mâu thuẫn của anh chị trở nên trầm trọng, anh H cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm nên mục đích hôn nhân không còn đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th đối với anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con:

A chị có 02 người con chung là Nguyễn Trần Phát Đ, sinh ngày 10-10-2013 và Nguyễn Trần Ngọc A, sinh ngày 28-12-2019. Hiện cả hai cháu đang sống chung với anh H và em ruột chị Th là anh Trần Xuân Ng. Chị Th yêu cầu được nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 người con chung.

Xét yêu cầu nuôi con của chị Th thì thấy: Từ tháng 3-2022, chị Th và anh H sống ly thân, cháu Đ và cháu A sống cùng với anh H. Tuy nhiên, anh H thường đi làm sớm và về muộn nên anh chị giao 02 cháu cho anh Trần Xuân Ng là em ruột của chị Th trông nom, chăm sóc và đưa rước cháu Đ đi học mỗi ngày. Còn chị Th thì từ khi sống ly thân, mặc dù chị Th không trực tiếp chăm sóc cho 02 người con chung nhưng chị Th vẫn về thăm nom và gửi tiền cho anh Ng để chăm lo cho 02 cháu. Nay chị Th có yêu cầu được nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 người con chung, còn anh H mặc dù đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng anh H vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với việc nuôi con. Mặt khác, cháu A chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần giao cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, còn cháu Đ cũng có nguyện vọng được sống cùng với chị Th. Hiện nay, chị Th có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Do đó, Hội đồng xét xử cần giao cho chị Th được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 người con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Th: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình thì “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Qua xác minh, thu thập chứng cứ thì hiện anh H có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Chị Th yêu cầu anh H cấp dưỡng cho 02 người con chung theo quy định của pháp luật là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Đ và cháu A hàng tháng với số tiền 1.500.000 đồng/tháng/01 người con từ tháng 10-2022 đến khi cháu Đ và cháu A thành niên và có khả năng lao động tự sinh sống được là phù hợp với nhu cầu phát triển của 02 người con chung và quy định tại Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Chị Th và anh H đều không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

Về nợ chung: Chị Th khai không có. Chị Th và anh H đều không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về án phí: Chị Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 và anh H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Th đối với anh Nguyễn H. Chị Trần Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn H.

2. Về nuôi con: Giao cho chị Th được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 người con chung tên Nguyễn Trần Phát Đ, sinh ngày 10-10-2013 và Nguyễn Trần Ngọc A, sinh ngày 28-12-2019. A H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Đ và cháu A hàng tháng với số tiền 1.500.000 đồng/tháng/01 người con từ tháng 10-2022 cho đến khi cháu Đ, cháu A thành niên và có khả năng lao động, tự sinh sống được.

Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Aanh chị không yêu cầu nên không giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Th phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà đã nộp theo biên lai thu số 0024488 ngày 01-7-2022 của Chi cục thi Hnh án dân sự huyện Gò Dầu. Chị Th đã nộp đủ tiền án phí.

Anh H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống Đ hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ