vanban.org

Bản án 116/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Diệu L .

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Diệu L được ly hôn với ông Lê Nhựt T . Về nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Diệu L .
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 116/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 10 – 5 – 2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lương Thị Hồng Thắm

Ông Nguyễn Hồng Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.

Ngày 10 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 31/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2022 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2022/QĐST – HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Diệu L , sinh năm 1976.

Địa chỉ: Ấp TL, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Lê Nhựt T , sinh năm 1975.

Địa chỉ: Ấp TL, xã MHB, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Bà L có mặt, ông T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/01/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Diệu L trình bày: Bà và ông Lê Nhựt T là vợ chồng cưới nhau từ năm 2017, đến ngày 27/9/2017 có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã MHB cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, cải vã, không tìm được tiếng nói chung, ông T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác khiến vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Bà và ông T đã xa nhau và đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Nhựt T .

Về nuôi con chung: Bà L xác định bà và ông T không có con chung.

Về chia tài sản: Bà L xác định bà và ông T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà L xác định bà và ông T không có nợ ai.

Bị đơn ông Lê Nhựt T được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án thể hiện việc bà L yêu cầu được ly hôn với ông T, nhưng ông T vẫn vắng mặt không có văn bản ý kiến trình bày đối với các yêu cầu khởi kiện của bà L.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt. Nguyên đơn có mặt vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Diệu L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lê Nhựt T. Ông T hiện đang cư trú tại xã MHB, huyện Đ, tỉnh Long An. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn là bà Nguyễn Diệu L có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Bị đơn là ông Lê Nhựt T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Diệu L:

Về hôn nhân: Xét thấy, bà Nguyễn Diệu L và ông Lê Nhựt T tự nguyện sống chung và đã đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 100/2017 đăng ký ngày 27/9/2017 do Ủy ban nhân dân xã MHB , huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cấp, nên xác định hôn nhân giữa bà L và ông T là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Xét thấy, quá trình chung sống giữa bà L và ông T đã phát sinh mâu thuẫn với những nguyên nhân do bà L trình bày. Ông T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án thể hiện việc bà L yêu cầu được ly hôn với ông T tại Tòa án, nhưng ông T vẫn không có ý kiến, luôn vắng mặt, không thể hiện ý chí muốn đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ mẫu thuẫn tình cảm giữa bà L và ông T là có thật, quan hệ hôn nhân của hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, việc bà L cương quyết ly hôn với ông T là có cơ sở, nên chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Do ông T cố tình vắng mặt, không có ý kiến trình bày. Ghi nhận bà L xác định không có con chung, Tòa án không đề cập giải quyết.

Về chia tài sản chung: Do ông T cố tình vắng mặt, không có ý kiến trình bày. Ghi nhận bà L xác định không có tài sản chung, Tòa án không đề cập giải quyết. Nếu sau này, các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

Về nợ chung: Do ông T cố tình vắng mặt, không có ý kiến trình bày. Ghi nhận bà L xác định không có nợ chung, Tòa án không đề cập giải quyết, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

Về án phí: Buộc bà Nguyễn Diệu L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Diệu L .

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Diệu L được ly hôn với ông Lê Nhựt T .

2. Về nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.

3. Về chia tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Diệu L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà Nước, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009478 ngày 11/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Long An. Bà L đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông T không phải chịu án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ