- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà L ly hôn vơi ông P"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2022/HNGĐ-ST Ngày: 06/9/2022 V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Nhựt Thảo
2. Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân Gia đình thụ lý số 304/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 140/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1980 (Có Đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 8, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Tạm trú: Tổ 8, khu phố H, phường M, huyện N, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn P, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 8, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai cùng ngày 09/6/2022 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn - Bà Phạm Thị L trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông P kết hôn với nhau vào năm 2000, hôn nhân do mai mối, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn số 127/2018 ngày 30/10/2018 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Sau khi kết hôn bà về chung sống với gia đình cha mẹ chồng. Đến năm 2005, ông bà có nhà ra riêng cất trên đất của ông bà mua gần nhà cha mẹ chồng. Ông bà chung sống êm ấm được khoảng hơn 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng trong cuộc sống, ông P sinh ra ăn nhậu thường xuyên, ít quan tâm đến gia đình vợ con. Mỗi khi có rượu vào ông thường hay kiếm chuyện mắng chữi, nhục mạ bà vô cớ, thậm chí đánh đập bà nhiều lần mang tính bạo lực gia đình. Từ đó, dẫn đến bất đồng trong tình cảm vợ chồng, không tôn trọng nhau, không còn tin tưởng nhau nữa, giữa ông bà luôn bất hoà, gia đình không còn êm ấm. Bà và ông P đã ly thân nhau từ tháng 10 năm 2018 đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Thị Thùy T, sinh ngày 03/02/2001 và Huỳnh Thị Thùy D, sinh ngày 03/3/2008.
Tại Đơn khởi kiện ngày 09/6/2022 theo bà L, hai cháu đã lớn khôn, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp ngày 28/7/2022, bà xác định yêu cầu được nuôi cháu D, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Về cháu T đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn – Ông Huỳnh Văn P: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông không đến Tòa án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L.
- Tài liệu, chứng cứ do Tòa án tiến hành thu thập được: Biên bản không lấy được lấy lời khai của ông P ngày 20/7/2022; Phiếu xác minh nơi cư trú của ông P ngày 25/7/2022; Biên bản lấy lời khai người làm chứng – ông Lê Anh T ngày 20/7/2022.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn: Vắng mặt và có Đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
+ Việc chấp hành pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện đúng trình tự tố tụng, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về hôn nhân: Bà L được ly hôn với ông P; Về con chung: Đối với cháu Huỳnh Thị Thùy T, sinh ngày 03/02/2001 đã trưởng thành, bà L không yêu cầu giải quyết, do đó không đặt ra xem xét. Giao con chung là cháu Huỳnh Thị Thùy D, sinh ngày 03/3/2008 cho bà L được tiếp tục nuôi dưỡng, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu; Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Bà L xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà L phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Phạm Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Văn P do vậy xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1.2 Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Huỳnh Văn P có nơi cư trú tại tổ 08, ấp A, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Do đó, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn - Bà L vắng mặt tại phiên toà, tuy nhiên bà đã có Đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp theo quy định nên được chấp nhận; Bị đơn – Ông P đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về phiên đối chất, Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông P vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà L và ông P.
Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: Bà L và ông P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp.
Quá trình chung sống giữa bà L và ông P xảy ra mâu thuẫn không thể khắc phục, theo bà L nguyên nhân là do bất đồng trong cuộc sống, ông P sinh ra nhậu nhẹt thường xuyên, mỗi khi có rượu vào thường hay mắng chữi, nhục mạ bà vô cớ, thậm chí đánh đập bà, ông P không chăm lo đến gia đình vợ con. Bà và ông P đã ly thân nhau từ tháng 10 năm 2018 đến nay. Nay bà L kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông P.
Theo Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà L với ông P ngày 20/7/2022 (Bút lục 42), ông Lê Anh T là cậu ruột của ông P xác định: Sau khi cưới bà L và ông P ở gần gia đình ông, cả hai đi làm mướn cuộc sống ổn định, sau đó mua được nền nhà gần nhà bên vợ của P. Tuy nhiên, thời gian sau vợ chồng L và P lụt đụt, ông không rõ cả hai mâu thuẩn lý do gì, nhưng ông biết cháu ông có quậy hoạn vợ con. Sau đó cả hai không ở quê nữa, đều tự đi làm trên Bình Dương và ly thân nhau đến nay khoảng hơn 5 năm. Theo ông giữa bà L và ông P không có khả năng đoàn tụ vì cả hai ly thân đã lâu và ông P đã có người khác. Ông P có biết việc bà L gửi Đơn ly hôn ở Tòa án nhưng do phải đi làm xa ít khi về nhà nên không đến Tòa án để làm việc.
Từ những nội dung nêu trên, xét thấy cuộc hôn nhân hiện nay giữa bà L và ông P lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc duy trì quan hệ hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai vì thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2018 đến nay và trong thời gian ly thân cả hai không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, bà L được ly hôn với ông P.
2.2 Về con chung: Giữa bà L và ông P có 02 con chung tên Huỳnh Thị Thùy T, sinh ngày 03/02/2001 và Huỳnh Thị Thùy D, sinh ngày 03/3/2008. Theo trình bày của bà L và kết quả xác minh cháu T hiện đã trưởng thành và có gia đình riêng, còn cháu D thì đang sống với mẹ trên Bình Dương. Sau khi ly hôn bà L không yêu cầu giải quyết đối với cháu T do đã trưởng thành nên hội đồng xét xử không xem xét; Đối với cháu D bà L yêu cầu được nuôi, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con và theo Tờ tự khai ngày 17/6/2022 cháu D có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, để ổn định cuộc sống của con chung hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu của bà L, giao con chung là cháu D cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu D đủ 18 tuổi. Bà L phải tạo điều kiện cho ông P trong việc tới lui thăm nom chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do bà L không yêu cầu nên ông P không phải cấp dưỡng nuôi con. Về quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn Nhân và Gia đình.
2.3 Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Bà L xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm:
Bà L là nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân Gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Bà L và ông P có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị L được ly hôn với ông Huỳnh Văn P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 127/2018 ngày 30/10/2018 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thành, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
Giao con chung là cháu Huỳnh Thị Thuỳ D, sinh ngày 03/3/2008 cho bà Phạm Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu D đủ 18 tuổi.
Bà L phải tạo điều kiện cho ông P trong việc tới lui thăm nom chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do bà L không yêu cầu nên ông P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn Nhân và Gia đình.
3. Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân Gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002564 ngày 17/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
4. Quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị L và ông Huỳnh Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện; Châu Thành, tỉnh An Giang; - Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; - UBND xã Vĩnh Thành; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Ngọc Trinh |