vanban.org

Bản án 116/2022/DSPT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 27/12/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguy n Thúc K; giữ nguyên Bản án dân s sơ thẩm số: 04/2022/DS-ST ngày 16/6/

của T a án nhân dân huyện Châu Đ như sau: [1]. Không chấp yêu cầu kh i kiện của ông Nguy n Thúc K về việc uộc à Nguy n Th H cùng các đồng thừa kế của ông Huỳnh Ngọc P là ông Hoàng Các, bà Nguy n Th H , bà Nguy n Th H, anh Huỳnh Đăng C , ch Huỳnh Nguy n Ngọc N phải trả cho ông Nguy n Thúc K 107m2 (là… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thúc Kháng - Huỳnh Ngọc Phú"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguy n Thúc K; giữ nguyên Bản án dân s sơ thẩm số: 04/2022/DS-ST ngày 16/6/
  • Căn cứ chính? Điều 3 Bộ luật Tố Tụng Dân s; Điều 8 Bộ luật Tố Tụng Dân s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2022/DSPT
Ngày: 27/12/2022
“V/v Tranh chấp ranh giới
quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguy n Th Quang

Các Thẩm phán:

Ông Trương Văn Tâm

Ông Tr nh Hoàng Anh

- Thư ký phiên tòa: Nguy n Th Hà Vy – Thư ký T a án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu

- Đ i di n Vi n ki m t nh n d n t nh Bà a – V ng Tàu: Bà Nguy n Th Thanh Thủy - Kiểm sát viên

Ngày 27-12-2022, tại Trụ s T a án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2022/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”

Do ản án dân s sơ thẩm số /

/DSST ngày tháng năm

của Toà án nhân dân huyện Châu Đ kháng cáo.

Theo các quyết đ nh, Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 98/

/QĐ-PT ngày 17-11-

; Quyết đ nh thay đổi người tiến hành tố tụng số 5 /

/QĐ-TA ngày 30-11-

; Quyết đ nh tạm ngừng phiên t a số 7A/

/QĐ-PT ngày 30-11-

; Thông áo về việc m lại phiên t a số

/

/TB-TA ngày 15-12-

; Quyết đ nh thay đổi người tiến hành tố tụng số 58/

/QĐ-TA ngày 27-12-2022 giữa các đương s :

Nguyên đơn: Ông Nguy n Thúc K, sinh năm 95 (có mặt).

Đ a ch : Tổ A, thôn N, xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a-V ng Tàu

Bị đơn: Vợ chồng ông Huỳnh Ngọc P sinh năm 9 (chết ngày 3 -10-2020), bà Nguy n Th H sinh năm 9 (có đơn xin xét xử vắng mặt) Đ a ch : Tổ A, thôn N, xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a-V ng Tàu

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Ngọc P:

1.Ông Huỳnh C sinh năm 93 , bà Nguy n Th H , sinh năm 9 (vắng mặt). Đ a ch : Khu phố T, phường X, th xã P, t nh Bà R a-V ng Tàu

Người đại diện hợp pháp của ông Các, à Hồng: Bà Nguy n Th H, sinh năm 1964 theo Giấy ủy quyền được công chứng ngày 9-11-

tại Văn ph ng Công chứng T, t nh Bà R a-V ng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bà Nguy n Th H, sinh năm 9 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

3. Ông Huỳnh Đăng C , sinh năm 99 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

4. Bà Huỳnh Nguy n Ngọc N, sinh năm 993 (có đơn xin xét xử vắng mặt). Cùng đ a ch : Tổ A, thôn N, xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a-V ng Tàu

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Huỳnh Đăng C sinh năm 99 ; bà Huỳnh Nguy n Ngọc N sinh năm 993 (có đơn xin xét xử vắng mặt) Cùng đ a ch : Tổ A, thôn N, xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a-V ng Tàu

Người làm chứng:

1. Bà Trần Th M, sinh năm 9 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Đ a ch : Tổ B, thôn N, xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a-V ng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Ông Lê Văn K1, sinh năm 95 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Đ a ch : Tổ C, thôn N, xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a-V ng Tàu

Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguy n Thúc K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Thúc K trình bày:

Vào năm

8, ông K và bà Đặng Th S ly hôn theo Quyết đ nh công nhận thuận tình ly hôn và s thỏa thuận của các đương s số 7/ 8/HNGĐ-ST ngày 25-8- 8 của T a án nhân dân huyện Châu Đ, t nh Bà R a-V ng Tàu

Sau đó, ông à t thỏa thuận chia tài sản chung là phần đất có diện tích 1.400m2, thửa đất số 3 9, tờ ản đồ số 5, xã T, huyện Châu Đ theo phần mỗi người được quyền s hữu, sử dụng ½ diện tích đất Đây là một phần của diện tích đất 7 m2, đất đã được Ủy an nhân dân (UBND) huyện Châu Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 59 55 ngày -6- 998 cho hộ à Đặng Th S.

Ngày 19-01-2011, ông K đã được UBND huyện Châu Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 95 5 đối với diện tích đất được chia là 7 m2, thửa đất số 73, tờ ản đồ số 5, xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a-V ng Tàu Phần diện tích đất ông K được chia có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông Huỳnh Ngọc P, phía Tây giáp đất à Phan Th B, phía Nam giáp đất ông Lê Viết T, à Bùi Th H2, ông Lê Xuân T1; phía Bắc giáp đường

Theo ông K thì hàng ranh giữa đất của ông K với đất của ông P không phải là hàng me keo do ông K trồng (ông không nhớ thời gian trồng) mà từ hàng me keo kéo về phía ông P khoảng 8m ngang nhưng ông không làm hàng ranh ch là đất trống Mục đích của ông K khi trồng hàng me keo này để các hộ dân sinh sống đường 5, 7 vào thời điểm đó không được đi nhờ qua đất của ông K và đất của vợ chồng ông L bà Trần Th M (sau này vợ chồng ông L, bà M mới chuyển nhượng cho vợ chồng ông P, bà H).

Năm

, khi làm thủ tục đo đạc để tách thửa thì ông K mới iết phần đất có chiều ngang khoảng 8m, chiều dài 5m (tức là phần đất từ hàng me keo đến phần đất trống giáp ranh giới đất ông P) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P Sau đó ông K có yêu cầu ông P phải giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P để ông K làm thủ tục ch nh lý sang phần đất của ông K thì ông P đồng ý Sau đó, ông K c ng đã sử dụng phần đất này ổn đ nh, liên tục cho đến năm

thì ông P lại lấn ranh sang phần đất của ông K.

Trên phần đất trống từ hàng me keo đến ờ ranh với đất của ông P có số cây rừng t mọc thì ông P lợi dụng lúc ông K vắng nhà nên đã t ý chặt ỏ toàn ộ cây này Khi xảy ra s việc này thì ông K đã áo chính quyền đ a phương và sau đó UBND xã T đã tiến hành h a giải lần vào ngày -12-2016 và ngày 15-02-

7 nhưng không thành vì ông P không đồng ý trả lại phần diện tích đã lấn chiếm cho ông K.

Trước đây, ông K kh i kiện ông P, bà H để yêu cầu trả lại phần đất đã lấn chiếm nay ông P đã chết nên ông K yêu cầu T a án uộc bà H và các đồng thừa kế của ông P phải trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn ph ng Đăng ký Đất đai huyện Châu Đ là 107m2, theo ông K phần đất này phải thuộc thửa đất số 73 (đất thuộc quyền sử dụng của ông K), không phải thuộc thửa đất số 35 (đất thuộc quyền sử dụng đất của ông P, bà H), tờ ản đồ số 15, xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a-V ng Tàu như ản vẽ thể hiện Ông K đồng ý theo kết quả đo đạc ngày 3-6-

của Chi nhánh Văn ph ng Đăng ký Đất đai huyện Châu Đ, kết quả đ nh giá tài sản ngày 3-11-

của Hội đồng đ nh giá tài sản huyện Châu Đ.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Vào năm 99 , vợ chồng à có nhận chuyển nhượng từ ông L diện tích đất khoảng

m2, tọa lạc tại xã T, huyện Châu Đ Vào thời điểm nhận chuyển nhượng đất thì đất của ông L vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng giữa phần đất ông à nhận chuyển nhượng với phần đất giáp ranh với đất của ông Nguy n Thúc K có ranh giới rõ ràng là hàng keo rừng (đến nay hàng keo này vẫn c n)

Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông à đã làm thủ tục kê khai và đã được UBND huyện Châu Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 59 8 ngày 16-6- 998 đối với diện tích đất 3 8m2, thửa đất số 35 , tờ ản đồ số 5, xã T, huyện Châu Đ và được cấp đổi vào ngày 3-7- 9, với diện tích là 3 8m2, thửa đất số 35 , tờ ản đồ số 5, xã T, huyện Châu Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 8 cho hộ ông Huỳnh Ngọc P.

Từ khi nhận chuyển nhượng vào năm 99 ông à đã sử dụng ổn đ nh cho đến năm

thì ông K mới khiếu nại đến UBND xã T vì cho rằng ông à lấn chiếm đất của ông K. Theo ông K ranh giới đất giữa hai ên là từ hàng me keo qua thêm một khoảng đất trống nhưng ông à không đồng ý C ng khoảng vào năm

ông à c ng đã trồng cây mãng cầu trên toàn ộ diện tích đất trong đó có cả phần đất mà ông K cho rằng lấn chiếm (khoảng 7 cây mãng cầu trên phần đất này) nhưng ông K c ng không có ý kiến

Nay, ông K kh i kiện yêu cầu à cùng các đồng thừa kế của ông P phải trả lại cho ông K phần đất có diện tích theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn ph ng Đăng ký Đất đai huyện Châu Đ là 107m2 thì à không đồng ý Bà H đồng ý theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn ph ng Đăng ký Đất đai huyện Châu Đ, kết quả đ nh giá tài sản của Hội đồng đ nh giá tài sản huyện Châu Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của đồng bị đơn (ông Huỳnh Ngọc P), anh Huỳnh Đăng C1, chị Huỳnh Nguyễn Ngọc N trình bày:

Ông P và bà H có người con chung là anh C1 và ch N. Ngày 31-10-

do ệnh nặng nên ông P chết

Về nguồn gốc diện tích đất 3 8m2, thửa đất số 35 , tờ ản đồ số 5, xã T, huyện Châu Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 8 cấp cho hộ ông Huỳnh Ngọc P vào ngày 23-7- 9 là tài sản chung của ông P, bà H vì khi ông P, bà H nhận chuyển nhượng thửa đất này thì anh C1, ch N c n nhỏ nên không đóng góp công sức, tiền của Đối với yêu cầu kh i kiện của ông K thì anh C1, ch N không có ý kiến và đề ngh T a án giải quyết theo quy đ nh của pháp luật

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng và người đại diện hợp pháp của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của đồng bị đơn (ông Huỳnh Ngọc P), bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà H, ông C, bà H1 không đồng ý theo yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn và đề ngh T a án giải quyết theo quy đ nh của pháp luật

Người làm chứng:

1. Bà Trần Thị M trình bày:

Bà M với ông K, ông P, bà H ch là quen hệ quen iết vì thửa đất hiện vợ chồng bà H đang sử dụng và tranh chấp về ranh giới với ông K có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của vợ chồng à

Từ năm 983 thì bà M đã sinh sống trên phần đất này, khi đó giữa thửa đất đã có hàng rào ằng cây me keo do ông K trồng Vào khoảng năm 99 , bà M có cho ông Lê Văn K1 đi nhờ trên phần đất của bà M dọc theo hàng ranh đất của ông K để đi ra chợ gần đó Theo bà M thì phần đất vợ chồng à cho ông K1 đi nhờ là thuộc quyền sử dụng của vợ chồng à Sau đó, do không có nhu cầu sử dụng nên năm 99 đã chuyển nhượng lại cho vợ chồng bà H. Theo bà hàng me keo hiện tại giữa thửa đất của ông K với đất của vợ chồng bà H chính là hàng keo đã có vào thời điểm à sinh sống

2. Ông Lê Văn K1 trình bày:

Ông K1 với ông K, ông P và bà H ch là quan hệ quen iết vì ông K1 sinh sống gần đó

Từ năm 99 thì gia đình ông vào lập nghiệp rồi sinh sống tại xã T, huyện Châu Thành (nay là huyện Châu Đ) cho đến nay Khi gia đình ông vào lập nghiệp và mua đất để làm nhà tại đường 3, thôn T, xã T do trước mặt nhà là đất ruộng, không có đường đi nên ông có xin đi qua đất của à Mót (th c tế là Trần Th M) để đi ra chợ gần đó (đất của à Mót hiện thuộc quyền sử dụng của ông P, bà H).

Ông K1 xác nhận lối đi ông xin để đi ra chợ là đi trên phần đất của à Mót c n giữa đất của bà M và đất của ông K đã có hàng ranh là cây me keo (đến nay hàng me keo này vẫn c n) ngoài ra không có con đường nào giữa hai thửa đất này Tuy nhiên, gia đình ông K1 ch đi nhờ được một thời gian thì không đi nữa vì sau đó bà M đã chuyển nhượng lại đất này cho vợ chồng ông P, bà H và thời điểm này thì trước phần nhà đất mà ông đang sinh sống c ng đã có đường đi

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2022/DSST ngày 16-6-2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đ đã tuyên xử: Căn cứ khoản 9 Điều , điểm a khoản Điều 35, điểm c khoản Điều 39; khoản Điều 7; Điều 8; điểm khoản Điều 7; khoản 3 Điều 8, Điều 9 của Bộ luật Tố tụng dân s ; khoản Điều 7; Điều

; khoản Điều 73 của Bộ luật Tố tụng dân s ; các Điều 3, 75, 7 Bộ luật Dân s ; khoản 5, khoản 7 Điều

; Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013; Điều , của Ngh quyết số 3 /UBTVQH của Ủy an Thường vụ Quốc hội ngày 3 -12-

quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án, tuyên xử:

Không chấp yêu cầu kh i kiện của ông K về việc uộc bà H cùng các đồng thừa kế của ông P phải trả 7m2, là một phần của thửa đất số 35 , tờ ản đồ số 5, xã T; đất đã được UBND huyện Châu Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 8 ngày 3-7- 9 với diện tích là 3 8m2, thửa đất số 35 , tờ ản đồ số 5, xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a-V ng Tàu đứng tên hộ ông Huỳnh Ngọc P lại cho ông K.

Công nhận ranh giới đất giữa hai thửa đất số 73 và thửa đất số 35 là từ điểm mốc số đến điểm , có chiều dài 5m theo kết quả đo đạc hiện trạng ngày 23-6-

của Chi nhánh Văn ph ng Đăng ký Đất đai huyện Châu Đ, t nh Bà R a - V ng Tàu.

Ngoài ra án sơ thẩm c n tuyên về lãi suất chậm trả; án phí; quyền kháng cáo và thời hạn thi hành ản án theo quy đ nh

Ngày 23-6-2022, ông K có đơn kháng cáo toàn ộ Bản án dân s sơ thẩm số 04/2022/DSST ngày 16/6/2022 của T a án nhân dân huyện Châu Đ với nội dung: Yêu cầu T a án cấp phúc thẩm sửa ản án dân s sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ông K.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 30-11-2022: Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tạm ngừng phiên t a để ch nh lại sơ đồ v trí đất làm căn cứ giải quyết vụ án

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 27-12-2022:

- Ông K không cung cấp thêm được chứng cứ mới; ông K vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình ày T a án cấp sơ thẩm và nội dung trong đơn kháng cáo.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu:

+ Việc tuân thủ pháp luật: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng th c hiện đúng quy đ nh của pháp luật

+ Về nội dung vụ án: Sau khi Tòa án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu ch nh lý lại sơ đồ v trí đất theo sơ đồ v trí ngày 23-12-

thì đã có đủ căn cứ để xác đ nh diện tích đất của ông K đã được UBND huyện Châu Đ cấp ngày 19-01-2011 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 95 5 là vẫn đủ 7 m2 mà không thiếu, mặt khác căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện ranh giới giữa diện tích đất của ông K với bà H là hàng me keo mà không phải như lời trình ày của ông K Do đó đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông K, giữ nguyên ản án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên t a phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận đ nh về vụ án như sau:

[I]. Việc xét xử vắng mặt các đương sự:

Các đương s trong vụ án gồm các ông bà H, C1, N đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án cấp phúc thẩm m phiên t a xét xử theo quy đ nh tại điểm khoản Điều 7; khoản 3 Điều 8 của Bộ luật Tố tụng Dân s .

Những người làm chứng là bà M, ông K1 đã có lời khai và đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên T a án cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt theo quy đ nh tại Điều 9 của Bộ luật Tố tụng Dân s .

[II]. Xét kháng cáo của ông K:

. Về nguồn gốc diện tích đất của hộ ông P và ông K:

. Nguồn gốc diện tích đất của hộ ông P:

Căn cứ vào lời trình ày của bà H và các đồng thừa kế của ông P, ông K, bà M, ông K1 cho thấy, nguyên diện tích đất hiện thuộc thửa 35 , tờ ản đồ 5, xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a – V ng Tàu trước đây là thuộc quyền sử dụng của bà M.

Sau khi bà M chuyển nhượng toàn ộ diện tích đất này cho vợ chồng ông P bà H thì ngày 16-6- 998, hộ ông Huỳnh Ngọc P được UBND huyện Châu Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 59 8 đối với diện tích đất 89m2 thuộc thửa 35 , tờ ản đồ 5 xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a – V ng Tàu (BL 05-06).

Ngày 23-7- 9, S Tài nguyên và Môi trường t nh Bà R a – V ng Tàu cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS: 648021 đối với diện tích 3 8m2 thuộc thửa 35 , tờ ản đồ 5 xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a – V ng Tàu cho hộ ông Huỳnh Ngọc P (BL 08-09).

Ngày 31-10-2020 , ông P chết nên hiện nay diện tích đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 8 ngày 3-7- 9 là thuộc quyền sử dụng chung của bà H và các đồng thừa kế của ông P.

. Nguồn gốc diện tích đất của ông K:

Ngày 20-11- 9, UBND huyện Châu Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AO 405862 cho hộ à Đặng Th S đối với diện tích 7 m2 thuộc thửa đất số 73, tờ ản đồ số 5 xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a – V ng Tàu (BL 37).

Căn cứ vào Văn ản thỏa thuận phân chia tài sản chung sau ly hôn giữa ông Nguy n Thúc K và bà Đặng Th S số: 432 ngày 18-5-2010 của Văn phòng công chứng Minh Đ (BL 34-35) và Bản cam kết hộ gia đình số: 433 ngày 18-5-2010 của Văn ph ng công chứng Minh Đ (BL 31-32) thì diện tích đất ông K được chia là 700m2 thuộc thửa

7 5 73, tờ ản đồ 5 tọa lạc tại xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a – V ng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO: 405862 ngày 20-11-2009 của UBND huyện Châu Đ cấp cho hộ à Đặng Th S.

Ngày 19-01-2011, ông Nguy n Thúc K được UBND huyện Châu Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD: 965560 đối với diện tích 700m2 thuộc thửa 73, tờ ản đồ 5 xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a – V ng Tàu (BL 38)

Từ những căn cứ nêu trên có cơ s để xác đ nh tổng diện tích của ông K thuộc thửa 73 tiếp giáp với diện tích đất của bà H và các đồng thừa kế của ông P thuộc thửa 350 cùng tờ ản đồ 15 xã T, huyện Châu Đ là 700m2.

. Về ranh giới đất giữa ông K và ông P:

Quá trình giải quyết vụ án ông K, bà M, ông K1 (là người trước đây được bà M cho đi nhờ qua đất tại v trí hiện ông K đang tranh chấp), bà H đều xác nhận thống nhất là hàng me keo là do ông K trồng Tuy nhiên về ranh giới đất thì các ên đương s trình ày không thống nhất Ông K thì cho rằng ranh giới đất giữa ông K và vợ chồng ông P bà H là từ hàng me keo kéo về phía đất của vợ chồng ông P bà H khoảng 8m ngang, dài 45m; còn bà M, ông K1, bà H lại khẳng đ nh hàng me keo do ông K trồng chính là ranh giới đất giữa ông K với bà M từ trước khi bà M chuyển nhượng toàn ộ diện tích đất thuộc thửa 35 cho vợ chồng ông P bà H, do đó sau khi bà M chuyển nhượng toàn ộ diện tích đất thuộc thửa 35 cho vợ chồng ông P bà H thì hàng me keo do ông K trồng chính là ranh giới đất giữa ông K với vợ chồng ông P bà H Xét thấy, lời trình ày của ông K là không có chứng cứ chứng minh; còn lời trình ày của bà M, ông K1, bà H không những phù hợp về mặt giấy tờ pháp lý mà c n phù hợp với th c tế sử dụng đất, cụ thể như sau:

- Về mặt giấy tờ pháp lý: Căn cứ vào Sơ đồ v trí ngày 3-12-2022 thể hiện:

+ Ranh giới đất của ông K và hộ ông P được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là trùng khớp với hàng me keo do chính ông K trồng

+ Nếu ranh đất theo s ch ranh của ông K là từ hàng me keo kéo về phía đất của ông P khoảng 8m ngang, dài 5m thì diện tích đất trên th c đ a c ng như diện tích đất cấp cho ông K trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 965560 ngày 19-01-2011 là dư 7m2, đồng thời diện tích đất trên th c đ a c ng như diện tích đất cấp cho hộ ông P trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS 648021 ngày 23-7-2019 là thiếu 107m2.

+ Nếu ranh đất theo s ch ranh của bà H là hàng me keo (do chính ông K trồng) thì diện tích đất trên th c đ a c ng như diện tích đất cấp cho hộ ông P trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS 8 ngày 3-7-2019 là đủ 1.368m2. Và diện tích đất trên th c đ a c ng như diện tích đất cấp cho ông K trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 9 55 ngày 9-01-

c ng đủ 7 m2 theo Văn ản thỏa thuận phân chia tài sản chung sau ly hôn giữa ông K và bà S số: 3 ngày 8-5-2010 và Bản cam kết hộ gia đình số 33 ngày 18-5-2010.

- Về thực tế sử dụng đất: Nguyên diện tích đất 7m2 tại v trí mà ông K đang tranh chấp là một phần trong tổng diện tích đất thuộc thửa 35 là thuộc quyền sử dụng của bà M, do bà M tr c tiếp sử dụng, có thời gian bà M cho ông K1 đi nhờ qua đất tại v trí này Sau khi bà M chuyển nhượng toàn ộ diện tích đất thuộc thửa 35 cho vợ chồng ông P bà H thì vợ chồng ông P bà H là người tr c tiếp sử dụng diện tích đất thuộc thửa 35 ao gồm cả diện tích đất 7m2 tại v trí mà hiện ông K đang tranh chấp. Từ căn cứ này Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất xác đ nh ranh giới đất giữa ông K và vợ chồng ông P bà H là hàng me keo do chính ông K trồng

Từ những phân tích viện dẫn nêu trên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với quan điểm của Đại diện viện kiểm sát nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu, không chấp nhận kháng cáo của ông K, giữ nguyên ản án sơ thẩm

Án phí dân s phúc thẩm: Ông K được mi n nộp theo quy đ nh

Vì các lẽ trên:

Áp dụng khoản , Điều 3 8 Bộ luật Tố Tụng Dân s :

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguy n Thúc K; giữ nguyên Bản án dân s sơ thẩm số: 04/2022/DS-ST ngày 16/6/

của T a án nhân dân huyện Châu Đ như sau:

[1]. Không chấp yêu cầu kh i kiện của ông Nguy n Thúc K về việc uộc à Nguy n Th H cùng các đồng thừa kế của ông Huỳnh Ngọc P là ông Hoàng Các, bà Nguy n Th H , bà Nguy n Th H, anh Huỳnh Đăng C , ch Huỳnh Nguy n Ngọc N phải trả cho ông Nguy n Thúc K 107m2 (là một phần trong tổng diện tích đất 3 8m2 thuộc thửa 35 , tờ ản đồ số 5, xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a-V ng Tàu) nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 8 của UBND huyện Châu Đ cấp cho hộ ông Huỳnh Ngọc P vào ngày 23-7-2019.

[2]. Công nhận ranh giới đất giữa thửa 73 và thửa 35 , tờ ản đồ số 5, xã T, huyện Châu Đ, t nh Bà R a-V ng Tàu là từ điểm mốc số đến điểm , có chiều dài 5m theo kết quả đo đạc hiện trạng ngày 3-12-2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Châu Đ, t nh Bà R a - V ng Tàu.

[3]. Chi phí đo đất, đ nh giá: Tổng cộng 3 97

đ ( a triệu chín trăm ảy mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi hai đồng) Ông Nguy n Thúc K phải nộp và đã nộp đủ

[4] Về án phí: Ông Nguy n Thúc K được mi n nộp tiền án phí dân s sơ thẩm và án phí dân s phúc thẩm theo quy đ nh tại Điều của Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-

của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lụât thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 27-12-2022).

Kèm theo mỗi ản án là Sơ đồ v trí đất lập ngày 3-12-2022.

Cỡ chữ