vanban.org

Bản án 116/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn P 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/02/2021.

Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn P nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nh n được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn P phạm tội trộm cắp tài sản116/2021/HS-ST - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn P 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/02/2021.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2021/HS-ST
Ngày 10 - 6 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Năm

Bà Nguyễn Thị Kính

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2021 tại tr s Tòa án nh n d n Qu n 8 Thành phố Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 92/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 144/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2021 và Thông báo ngày 28/5/2021 về việc dời ngày xét xử, đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn P; sinh năm 1998 tại Cà Mau; nơi cư trú: 22/23AP, Khóm 4, Phường 7 thành phố C tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà uỳnh Ngọc A; vợ con: Chưa có; tiền án tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 26/02/2021 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn L sinh năm 1969; nơi cư trú (hộ khẩu thường trú: 19B, Phường 7 Qu n 8 Thành phố Chí Minh; chỗ : 138 R Phường 7 Qu n 8 Thành phố

Chí Minh). (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 09/8/2019, Nguyễn Tuấn P đến tiệm tạp hoá tại số 138 R, Phường 7, Qu n 8 Thành phố Chí Minh do ông Nguyễn Văn L làm chủ để mua mì gói và nước ngọt. Sau khi P mua được đ mang về thì bà uỳnh Ngọc A (là mẹ ruột của P) phát hiện không đúng loại nước ngọt cần mua nên yêu cầu P quay lại tiệm tạp hoá để đổi. P quay lại tiệm tạp hoá gặp ông L và yêu cầu đổi hàng hóa lúc ông L quay đi lấy lấy đ để đổi thì P đang đứng gần tủ đựng tiền của ông L, tủ không khoá và ông L đã đi lấy đ nên không còn người trông coi. Vì muốn có tiền tiêu xài cá nh n P nảy sinh ý định lấy trộm tiền của ông L nên lén lút m tủ lấy một xấp tiền (g m nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau, tổng số tiền là 5.750.000 đ ng), r i đóng tủ lại. Khi P đang cầm xấp tiền trên tay thì ông L vừa quay lại phát hiện nên giữ P lại cùng số tiền trên tay đ ng thời tri hô và được ông Đoàn Thanh (là khách đang ng i ăn cơm tại quán ăn đối diện tiệm tạp hoá của ông L) nhìn thấy đến hỗ trợ ông L bắt giữ P cùng v t chứng giao đến Công an Phường 7 Qu n 8. Công an phường tiến hành l p biên bản bắt người phạm tội quả tang sau đó chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Qu n 8 để điều tra làm rõ.

Cơ quan điều tra - Công an Qu n 8 đã kh i tố v án kh i tố bị can đối với Nguyễn Tuấn P về tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên trong thời gian điều tra P bỏ trốn khỏi địa P nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã. Đến ngày 26/02/2021, P bị bắt theo quyết định truy nã.

Quá trình điều tra, Nguyễn Tuấn P đã khai nh n toàn bộ hành vi lấy trộm tiền như trên. Số tiền P chiếm đoạt của ông L xác định được là 5.750.000 đ ng, g m 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đ ng 01 tờ mệnh giá 200.000 đ ng 26 tờ mệnh giá 100.000 đ ng và 29 tờ mệnh giá 50.000 đ ng. Ngày 10/08/2019 bị hại ông Nguyễn Văn L đã được cơ quan điều tra ra quyết định xử lý v t chứng bằng hình thức trả lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt là 5.750.000 đ ng; đ ng thời ông L không yêu cầu gì khác đối với Nguyễn Tuấn P.

Tại bản Cáo trạng số 109/CT-VKSQ8 ngày 05/5/2021, Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 Thành phố Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 Thành phố Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tuấn P về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi ph n tích đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Viện kiểm sát đề nghị ội đ ng xét xử áp d ng khoản 1 Điều 173; các điểm h i s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 08 đến 12 tháng tù; không áp d ng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm d n sự bị hại không có yêu cầu b i thường nên không đề c p giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến tranh lu n; bị cáo thừa nh n hành vi phạm tội ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa ội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai bị hại người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ v án xác định vào khoảng 09 giờ ngày 09/8/2019 tại số 138 R, Phường 7, Qu n 8, Thành phố Chí Minh, bị cáo Nguyễn Tuấn P có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 5.750.000 đ ng của ông Nguyễn Văn L. ành vi của bị cáo đã bị phát hiện bắt quả tang.

Điều 173 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã x m phạm đến quyền s hữu tài sản của cá nh n được pháp lu t bảo vệ. Như v y ội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Tuấn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

ành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo giáo d c bị cáo tr thành người có ích có ý thức tu n theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa phạm tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ s đúng người đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 đề nghị áp d ng đối với các bị cáo là phù hợp tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên, quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu h i trả cho bị hại thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”. Do đó ội đ ng xét xử áp d ng các điểm h i s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Trong giai đoạn điều tra bị cáo đã bỏ trốn và bị truy nã điều này đã g y khó khăn cản tr trong việc điều tra, xử lý hành vi của bị cáo. Do đó ội đ ng xét xử cũng xem xét đánh giá để có mức hình phạt phù hợp với hành vi của bị cáo.

Xét thấy theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nh p không ổn định điều kiện kinh tế còn khó khăn nên ội đ ng xét xử không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm d n sự do bị hại không có yêu cầu bị cáo b i thường thiệt hại nên ội đ ng xét xử không xem xét.

Về xử lý v t chứng v án: Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý v t chứng bằng hình thức trả lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt là 5.750.000 đ ng cho bị hại. Đ ng thời bị hại không có ý kiến yêu cầu liên quan đến việc tạm giữ xử lý v t chứng nên ội đ ng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn P 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/02/2021.

- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn P nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nh n được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.

Cỡ chữ