vanban.org

Bản án 116/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 28/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s…

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án. Trường hợp bản án đựơc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2021/HS-ST
Ngày 28-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đức Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Mai

Bà Phạm Thị Bích Ngọc.

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2021/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 272/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Đình T (tức T), sinh năm 1983 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 305 Lô 2 chung cư tổ 32 phường V, quận L, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình T và bà H Thị N; có vợ là H Thị S và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Án số 75/HSST ngày 28/5/2003 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 30 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Án số 143/HSST ngày 27/6/2007 Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Án số 09/HSST ngày 24/01/2013 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đều đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 04/8/2021, chuyển tạm giam ngày 13/8/2021; có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Vũ Huy H, sinh năm 1998, ĐKHKTT: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh P; nơi ở hiện nay: Ngõ 9 phường A, quận D, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20h00’ ngày 06/10/2020, anh Trần Vũ Huy H đi cùng bạn là Nguyễn Đức T và để xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu trắng - xám, biển kiểm soát 16R6-9782 trên vỉa hè cửa quán Internet (địa chỉ: Số 105 N, phường K, quận L, thành phố H) rồi vào trong quán ngồi tại máy số 17 chơi điện tử. Khi vào quán anh H đã thấy máy số 16 có Lê Đình T đang ngồi chơi. Khoảng 23h00’ cùng ngày, anh T ra về, chỉ còn lại anh H và T ngồi chơi. Đến khoảng 05h30’ ngày 07/10/2020, anh H về thì không thấy xe máy của mình đâu. Qua trích xuất kiểm tra hình ảnh camera tại quán thì phát hiện: Khoảng 04h47’ ngày 07/10/2020, trong lúc anh H mải chơi không để ý thì T đã lấy chìa khóa xe anh để trên mặt bàn phía bên tay trái của mình rồi ra mở khóa xe dắt xe đi. Ngay sau đó anh H đã đến cơ quan công an trình báo và giao nộp 02 đoạn video lưu giữ hình ảnh nội dung vụ việc như trên.

Khoảng 13h30’ ngày 07/10/2020, anh H có đăng đoạn video trên lên Facebook thì có một tài khoản facebook (không xác minh được lai lịch địa chỉ) nhắn tin nói người nam giới lấy xe của anh nhà ở số 305 lô 2 khu chung cư V, quận L, thành phố H. Anh H và anh T tìm đến địa chỉ trên thì gặp bà H, xác nhận người trong video chính là T, con trai bà, nhưng không biết T hiện đi đâu làm gì. Đến ngày 21/10/2020 bà Ngàn gọi điện cho anh T bảo xe của anh H đang bị giữ tại Công an quận Ngô Quyền, cầm giấy tờ xe đến lấy xe về.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tiến hành xác minh tại Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng được biết: Ngày 21/10/2020 có một nam giới đi xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu trắng-xám, biển kiểm soát 16R6-9782 vi phạm luật giao thông bị lập biên bản đã để lại xe và bỏ đi. Công an quận Ngô Quyền đã bàn giao lại xe cho Công an quận Lê Chân để giải quyết.

Từ ngày 07/10/2020, sau khi bị Cơ quan công an quận Ngô Quyền giữ xe, do không có giấy tờ xe, T bỏ đi làm và không về nhà. Đến ngày 03/8/2021 khi về nhà T mới được mẹ là bà H thông báo có giấy triệu tập của Cơ quan công an quận Lê Chân, nên T đã tự nguyện ra đầu thú.

Tại Kết luận định giá số 14/KL-HĐĐGTS ngày 29/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân quận Lê Chân kết luận: Giá trị còn lại của xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu trắng-xám, biển kiểm soát 16R6-9782 là 7.700.000 đồng.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, Lê Đình T đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

Tại phiên tòa, bị hại là anh Trần Vũ Huy H vắng mặt, nhưng đã có lời khai khai diễn biến nội dung sự việc như sau: Ngày 06/10/2020 anh H đi cùng bạn đến quán Internet tại số 105 N, phường K, quận L, thành phố H chơi điện tử. Đến khoảng 5h30’ ngày 07/10/2020 anh H chuẩn bị rời quán đi về thì không thấy xe máy của mình, nên đã hỏi nhân viên trông quán. Sau đó kiểm tra hình ảnh camera phát hiện đối tượng nam giới (sau này anh H biết người này là Lê Đình T) ngồi chơi ở máy bên cạnh đã lợi dụng lúc anh H không chú ý, lấy chìa khóa xe. Sau đó có hành vi lấy trộm chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu trắng-xám biển kiểm soát 16R6-9782. Giá trị hiện tại của chiếc xe máy theo anh H khoảng 10.000.000 đồng. Anh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.

Tại Cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 30/9/2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Lê Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Qua xem xét đánh giá chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra, cùng lời khai nhận của bị cáo, tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị can Lê Đình T theo tội danh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lê Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình T với từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù;

Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình và bản thân bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: 01 chiếc USB lưu giữ hình ảnh video là tài liệu được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu trắng-xám biển kiểm soát 16R6-9782 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Trần Vũ Huy H, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Lê Chân đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh H.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Vũ Huy H không yêu cầu Lê Đình T phải bồi thường gì khác.

Về án phí: Bị cáo Lê Đình T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, các bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, T diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.

- Về tội danh:

Lời khai về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng; biên bản phân tích hình ảnh camera cùng với vật chứng đã được thu giữ trong vụ án, cho thấy: T đã có hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút lấy và chuyển dịch tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu trắng-xám BKS 16R6-9782 của anh Trần Vũ Huy H để T mãn nhu cầu cá nhân. Căn cứ vào các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Lê Chân và quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Nhân thân bị cáo T chưa có tiền sự, có 03 tiền án đều đã được xóa án tích theo quy định tại Điều 73 Bộ luật Hình sự; lần phạm tội này tuy không xem xét tình tiết tăng nặng tái phạm đối với bị cáo, nhưng cho thấy bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại; bị cáo đã tự giác ra đầu thú; bố đẻ của bị cáo là thương binh nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự .

- Về hình phạt:

Tội phạm mà bị cáo Lê Đình T thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hành vi, động cơ, mục đính thực hiện tội phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an T xã hội. Bị cáo nhiều lần phạm tội mặc dù đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật, nhưng không có ý thức ăn năn, hối cải mà vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình và bản thân bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập và trên cơ sở quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, nên xét thấy cần thiết miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

- Về vật chứng:

Đối với 01 chiếc USB lưu giữ hình ảnh video là tài liệu được lưu giữ theo hồ sơ vụ án, nên không đặt ra xử lý.

- Về các vấn đề khác:

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu trắng-xám biển kiểm soát 16R6-9782 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Trần Vũ Huy H, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Lê Chân đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh H, anh H đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì nên không đặt ra xem xét.

- Về trách nhiệm dân sự:

Tại Cơ quan điều tra anh Trần Vũ Huy H không yêu cầu Lê Đình T phải bồi thường trách nhiệm dân sự gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí:

Bị cáo Lê Đình T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Đình T 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 04/8/2021.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Đình T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án đựơc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi thành án dân sự có quyền T thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành dân sự đựơc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ