- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Xuân H phạm tội Cố y gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? [1]. Áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 3 điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;điểm i khoản 1điều 52; Điều 65; Điều 17; Điều 47; Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều Điều 106; Điều 135, Điều 136, Điều 332,…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2021/HS-ST Ngày 30/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thu Hà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh- Cán bộ hưu.
Bà Ngô Thị Mai – Giáo viên về hưu..
Thư ký phiên toà: bà Vũ Thị Thanh Huyền - Cán bộ Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2021/HSST ngày 15/11/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117 /2021/QĐXXST-HS ngày 17/11/2021, đối với các bị cáo:
1- Họ và tên: Trịnh Xuân H. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 30/11/2004, khi xét xử là 17 tuổi ; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 10/12;Họ và tên bố: Trịnh Xuân T , sinh năm 1976; họ và tên mẹ: Vũ Thị S , sinh năm 1983;Gia đình bị cáo có 02 anh, em, bản thân là con thứ nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con. Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo không bị tạm giữ, không bị tạm giam. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.( Có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo H: Chị Vũ Thị S , sinh năm 1983 và anh Trịnh Xuân T , sinh năm 1977; Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Giang; ( Có mặt).
- Đại diện Trường Cao đẳng kỹ thuật Công Nghiệp ( vắng mặt)
2- Họ và tên: Hà A T. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 16/3/2004, khi xét xử 17 tuổi 08 tháng 14 ngày; Nơi cư trú: Thôn H , xã M , huyện C, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên bố: Hà Văn T , sinh năm 1972; họ và tên mẹ: Tạ Thị Th , sinh năm 1975; Gia đình bị cáo có 02 chị, em, bản thân là con thứ hai trong gia đình;Bị cáo chưa có vợ, con; Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, không bị tạm giam. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.( Có mặt tại phiên tòa)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo A T: Chị Tạ Thị Th , sinh năm 1975 và anh Hà Văn Toan, sinh năm 1972; Cùng địa chỉ: Thôn H , xã M, huyện C, tỉnh Bắc Giang; ( Có mặt).
- Đại diện Đoàn thanh niên xã M ( vắng mặt).
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Trịnh Xuân H và Hà A T: Bà Giáp Thị H - Trợ giúp viên pháp lý thuôc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Đường Lê Lợi, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.( Có mặt)
3- Họ và tên: Dương Đức D. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 31/12/2006, khi xét xử là 14 tuổi 11 tháng; Nơi cư trú: Thôn H , xã M, huyện C, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 10/12; Họ và tên bố: Dương Văn M , sinh năm 1979; họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L , sinh năm 1982; Gia đình bị cáo có 02 chị, em, bản thân là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con; Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo không bị tạm giữ, không bị tạm giam. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. ( Có mặt tại phiên tòa).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo D: Chị Nguyễn Thị L n, sinh năm 1982 và anh Dương Văn M , sinh năm 1979; Cùng địa chỉ: Thôn H , xã M, huyện C, tỉnh Bắc Giang; ( Có mặt).
- Đại diện Tr Cao đẳng kỹ thuật Công ngH ( vắng mặt)
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Dương Đức D: Bà Thân Thị Thúy V và ông Nguyễn Văn Ph - Trợ giúp viên pháp lý thuôc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Giang; Địa chỉ: Đường Lê Lợi, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. ( Bbà Vân xin vắng mặt, ông Phương có mặt).
- * Người bị Hi:
1. Anh Vũ Nam Tr, sinh năm 2005;
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Vũ Văn Q , sinh năm 1975 và chị Hoàng Thị Nh , sinh năm 1976;
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Giang; ( Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Hoàng H, sinh năm 2005
Người đại diện hợp pháp của anh Hiê ̣p : Anh Nguyễn Văn Gi , sinh năm 1974 và chị Trần Thi ̣ Th, sinh năm 1976;
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Giang;
2. Anh Lê Đình Đ , sinh năm 2005
Ngườ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp của anh Đu: Chị Nguyễn Thi ̣̉
L, sinh năm 1970
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Giang;
3. Anh Ngô Hà Đức Bình, sinh năm 2006
Người đại diện hợp pháp của anh Binh: Anh Ngô Đứ c V , sinh năm 1979 và
̀
chị Hà Thị Thanh T, sinh năm 1983;
Cùng địa chỉ: Thôn H , xã M, huyện C, tỉnh Bắc Giang;
4.Anh Vũ Mạnh Đô, sinh năm 2004
Người đại diện hợp pháp của anh Đô: Anh Vũ Văn K , sinh năm 1969 và chị
Ngô Thi ̣ H , sinh năm 1970;
Cùng địa chỉ: Thôn L, xã D, huyện C, tỉnh Bắc Giang;
5.Anh Nguyễn Văn K , sinh năm 2002
Địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện C, tỉnh Bắc Giang;
6. Chị Đoàn Thị H , sinh năm 2006
Ngườ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp của chi ̣ H: Anh Đoàn Văn Đ , sinh năm 1974 và chị
Hoàng Thị S, sinh năm 1974.
Cùng địa chỉ: Thôn C , xã M, huyện C, tỉnh Bắc Giang;
7. Anh Trịnh Xuân T , sinh năm 1977
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Giang;
8. Anh Hà Văn Toan, sinh năm 1972
Địa chỉ: Thôn H , xã M, huyện C, tỉnh Bắc Giang;
9. Anh Vũ Văn K , sinh năm 1969
Địa chỉ: Thôn H , xã M, huyện C, tỉnh Bắc Giang;
10. Chị Hà Thị Thanh Tâm, sinh năm 1983
11. Chị Nguyễn Thị L , sinh năm 1982
Cùng địa chỉ: Thôn H , xã M, huyện C, tỉnh Bắc Giang;
12. Anh Vũ Văn Q , sinh năm 1975
Địa chỉ: Thôn Th , xã T, huyện C, tỉnh Bắc Giang;
*Người làm chứng:
1. Chị Bạch Thị Linh Đ , sinh năm 2005
Ngườ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp của chi ̣ Đ : anh Ba ̣ch Văn Th , sinh năm 1985 và chị Hoàng Thị Nh, sinh năm 1976.
Cùng địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Giang;
2. Anh Mã Văn Q , sinh năm 2005
Ngườ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp cua anh Q̉
: Anh Ma Văn G̃
, sinh năm 1980
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
( Toàn bộ người liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 27/3/2005 trú tại thôn C, xã T, huyện Cvà Đoàn Thị H , sinh ngày 28/6/2006 trú tại tổ dân phố Q, thị trấn V , huyện Ccó mâu thuẫn trong chuyện tình cảm với nhau từ trước. Tối ngày 11/3/2020, Nguyễn Hoàng H và Đoàn Thị H nhắn tin chửi nhau qua tin nhắn Facebook và hẹn 17 giờ ngày 12/3/2021 có mặt tại Cầu mới thôn H , xã M, huyện C để giải quyết mâu thuẫn. Nguyễn Hoàng H đã bảo một số người bạn đi cùng H trong đó có Lê Đình Đủ, sinh ngày 09/5/2005 trú tại thôn Dĩnh Lục 2, xã Tân Dĩnh, huyện C. Còn Hiếu rủ 07 người bạn đi cùng gồm: Trịnh Xuân H, sinh ngày 30/11/2004 trú tại thôn Đồng Quang, xã Đào Mỹ, huyện C; Hà A T, sinh ngày 16/3/2004; Dương Đức D, sinh ngày 31/12/2006; Ngô Hà Đức Bình, sinh ngày 31/8/2006 cùng trú tại thôn H, xã M, huyện C và Vũ Mạnh Đô, sinh ngày 01/6/2004 trú tại thôn Lâm Sơn, xã Dương Đức, huyện C; Nguyễn Hoàng Sơn, sinh năm 2001 trú tại thôn Nguyên, xã M, huyện C; Nguyễn Văn Kiên, sinh năm 2002 trú tại thôn Am, xã Xuân Hương, huyện C.
Khoảng 17 giờ ngày 12/3/2021, hai nhóm gặp nhau ở Cầu mới thuộc thôn H, xã M, huyện C thì có một số bạn học của hai nhóm đi về qua cũng đứng lại xem sự việc. Nhưng do nhóm của Nguyễn Hoàng H có ít người hơn, sợ bị đánh đã điều khiển xe mô tô bỏ chạy về hướng xã Tân Dĩnh, huyện C. Thấy vậy nhóm của Trịnh Xuân H đuổi theo được khoảng 02 km rồi cả hai nhóm lại quay về Cầu mới thuộc thôn H, xã M đứng cách nhau khoảng 10m (trong quá trình hai nhóm đuổi nhau không ai đem theo hung khí, không hô hào làm mất an ninh trật tự). Cùng lúc này có Vũ Nam Tr, sinh ngày 25/4/2005 trú tại thôn Th , xã T, huyện C; Bạch Thị Linh Đ , sinh ngày 01/11/2005 trú tại thôn Mải H, xã T, huyện C; Mã Văn Q , sinh ngày 13/10/2005 trú tại thôn Đ, xã K, huyện L đi qua thấy bạn là Lê Đình Đ đã đỗ xe lại xem có chuyện gì. Được một lúc thì nhóm của Nguyễn Hoàng H bỏ về gần hết chỉ còn lại khoảng 6- 7 người. Thấy vậy, Hà A T, Trịnh Xuân H, Dương Đức D và một số người bạn trong nhóm đi bộ sang nhóm của Nguyễn Hoàng H để nói chuyện. Tưởng nhóm Trịnh Xuân H đi đến đánh nên Nguyễn Hoàng H, Lê Đình Đ bỏ chạy thì Tr điều khiển xe mô tô 98L2- 4091 chở Đ ngồi giữa, Nguyễn Hoàng H ngồi sau chạy về hướng xã X. Thấy vậy Ngô Đức B điều khiển xe mô tô 98M1- 131.84 chở Vũ Mạnh Đ cầm bình xịt hơi cay (loại tự chế), còn Trịnh Xuân H điều khiển xe mô tô 98Y5- 5973 chở Hà A T ngồi giữa cầm 01 thanh phóng lợn dài 86,5cm được chế tạo từ ống kim loại hình trụ tròn gắn với lưỡi dao nhọn ở tay phải và Dương Đức D ngồi sau cầm 01 gậy rút bằng sắt dài 62cm, tay cầm màu đen (loại gậy có 03 khúc có thể rút ra, thu vào được) ở tay phải đuổi theo. Khi đuổi theo xe của Tr được khoảng 350m thì đuổi kịp, B và Đ yêu cầu Tr đỗ xe lại nhưng Tr không đỗ lại, Nguyễn Hoàng H dùng mũ bảo hiểm đánh về phía B và Đ nhưng không trúng. Thấy vậy B điều khiển xe vượt lên đi song song xe của Tr, Đ dùng bình xịt hơi cay xịt về phía Tr rồi B đi xe chở Đô chạy về phía thôn N, xã M, huyện C.
Sau khi bị Đ xịt hơi cay, Tr điều khiển xe đi tiếp được khoảng 850m đến khu vực thôn A , xã X thì Trịnh Xuân H điều khiển xe đuổi kịp phía sau. Trịnh Xuân H khai lúc này đi với tốc độ khoảng 70km/h, chèn xe Tr và yêu cầu Tr dừng xe lại nhưng Tr không dừng lại đồng thời Nguyễn Hoàng H lấy mũ bảo hiểm ném về phía Trịnh Xuân H trúng vào tay của A T và D. Do tức giận nên A T cầm dao phóng lợn bằng tay phải chém, chọc đồng thời D cầm gậy rút bằng sắt ở tay phải vụt nhiều cái về phía Nguyễn Hoàng H nhưng không trúng. Do sợ bị A T chém và D cầm gậy rút vụt trúng bạn nên Tr vừa điều khiển xe bỏ chạy, vừa đánh lái tránh nên đã mất tay lái để xe mô tô lao xuống ruộng ở bên phải đường khiến Tr bị gãy mâm chày, trật gối trái, tổn thương mạch kheo, còn Nguyễn Hoàng H và Đủ bỏ chạy ra phía cánh đồng. Lúc này Trịnh Xuân H dừng xe lại, D bốc đất ném vào mặt Tr, còn Trịnh Xuân H lấy dao phóng lợn của A T chạy xuống định đánh Tr nhưng A T can ngăn thì Trịnh Xuân H chở A T và D về nhà, còn Tr được đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang sau đó chuyển Bệnh viện Việt Đức điều trị từ ngày 12/3/2021 đến ngày 05/4/2021 ra viện.
Sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân trình báo việc Vũ Nam Tr điều khiển xe mô tô bị lao xuống ruộng, Cơ quan điều tra đã khám nghiệm hiện Tr, tạm giữ phương tiện là xe mô tô 98L2- 4091 (BL 63- 69).
Ngày 12/3/2021 và 15/6/2021, Vũ Nam Tr cùng bố đẻ là ông Vũ Văn Q có đơn yêu cầu xử lý Trịnh Xuân H, Hà A T và Dương Đức D về hành vi Cố ý gây thương tích (BL 61- 62).
Ngày 12/3/2021, Nguyễn Văn Kiên giao nộp: 01 ống kim loại dài 75cm; 01 ống kim loại dài 76cm; 01 ống kim loại dài 67,5cm. Kiên khai là của Kiên đem đến Cầu Mới thuộc thôn H, xã M (BL 93).
Ngày 13/3/2021, Hà A T giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 vật dạng bình xịt dài 15cm, màu xanh đen, bên ngoài có ghi chữ NATO (bình xịt hơi cay tự chế); 01 gậy rút bằng sắt dài 62cm, tay cầm màu đen (loại gậy có 03 khúc có thể rút ra, thu vào được); 01 thanh phóng lợn dài 86,5cm được chế tạo từ ống kim loại hình trụ tròn gắn với lưỡi dao nhọn. A T khai là hung khí sử dụng khi đuổi đánh nhóm Nguyễn Hoàng H (BL 91).
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 109/21/TgT ngày 01/7/2021 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, kết luận:
“ - Thương tích vết sẹo mổ mặt trong gối trái và cẳng chân trái + 02 vết sẹo mổ dẫn lưu mặt ngoài gối trái + Vết sẹo mổ dẫn lưu mặt trong 1/3 dưới đùi trái + Vết sẹo mổ mặt trước gối trái và cẳng chân trái + Vết sẹo mổ mặt ngoài cẳng chân trái + Phiếu phẫu thuật (Phẫu thuật kết hợp xương trên màn hình tăng sáng): Rạch da theo đường mở cân khu trong và khu ngoài cẳng chân trái. Rạch da thêm đường giữa trước gối trái bộc lộ mâm chày và khớp gối. Mâm chày trong gãy di lệch, khớp gối trật hoàn toàn ra sau, đứt bán phần gân bánh chè tại diện bám + Phiếu phẫu thuật (Phẫu thuật điều trị chấn thương - vết thương mạch máu ngoại vi ở trẻ em): Qua vị trí mở cân cẳng chân trái bộc lộ bó mạch khoeo dưới gối ngang ổ gãy thấy: Động mạch khoeo đụng dập, đứt rời 1 đoạn ~ 1,5cm, trên ngã 3 ~ 1cm. Tĩnh mạch khoeo còn mềm mại. Tiến hành cắt bỏ đoạn động mạch khoeo đụng dập, nối trực tiếp hai đầu động mạch + Phiếu chụp xquang số hóa: Hình ảnh gãy mâm chày trái, di lệch có mảnh rời. Gãy mỏm xương mác trái. Trật khớp gối trái + Xquang khớp gối trái: Hình ảnh gãy mâm chày trái, còn dụng cụ kết hợp xương mâm chày trái. Gãy chỏm xương mác đã can xương: 36%.
- Thương tích sẹo mổ lấy da đùi trái: 3%.
- Thương tích vết sẹo mu chân trái: 2%.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể Vũ Văn Tr do thương tích gây nên hiện tại là: 39%” (BL 152- 154).
Tại Kết luận định giá tài sản số 72/KL- HĐĐGTS ngày 18/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C định giá thiệt Hi phần hư hỏng xe mô tô 98L2- 4091 là 380.000 đồng (BL 168- 171).
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án ông Trịnh Xuân T (bố đẻ của Trịnh Xuân H) bồi thường 26.000.000 đồng; ông Hà Văn T (bố đẻ của Hà A T) bồi thường 26.000.000 đồng; ông Vũ Văn K (bố đẻ của Vũ Mạnh Đ ) bồi thường 16.000.000 đồng; bà Hà Thị Thanh T (mẹ đẻ của Ngô Hà Đức B ) bồi thường 15.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị L (mẹ đẻ của Dương Đức D) bồi thường 7.000.000 đồng. Vũ Nam Tr và bố đẻ là ông Vũ Văn Q đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu ai phải bồi thường gì thêm, có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hà A T, Trịnh Xuân H và Dương Đức D (BL 106-107).
Đối với Ngô Đức D chỉ khai nhận ngồi sau cầm gậy rút bằng sắt nhưng không có hành động vụt về phía xe anh Vũ Nam Tr. Tuy nhiên căn cứ lời khai anh Tr, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hoàng H, Lê Đình Đ, lời khai người làm chứng Bạch Thị Linh Đ , Mã Văn Q , có đủ căn cứ xác định D có hành vi cầm gậy rút vụt nhiều cái về phía xe của anh Tr.
Đối với việc Ngô Hà Đức B điều khiển xe mô tô chở Vũ Mạnh Đ ngồi sau cầm bình xịt hơi cay xịt về phía xe của Vũ Nam Tr nhưng không ai bị thương tích gì sau đó B điểu khiển xe mô tô bỏ đi về thôn N, xã M, huyện C không tham gia truy đuổi anh Tr nữa nên hành vi của B và Đ không đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 02/11/2021, Công an huyện C phạt hành chính Đ số tiền 1.250.000 đồng về hành vi “xâm hại đến sức khỏe của người khác” và nhắc nhở đối với B là phù hợp.
Đối với Nguyễn Văn K , quá trình điều tra làm rõ: Khi thấy nhóm của Nguyễn Hoàng H tập trung đông ở khu vực Cầu mới thuộc xã M đã về nhà lấy 03 ống kim loại đem đến, mục đích để đánh nhóm của Nguyễn Hoàng H.Tuy nhiên Kiên chưa sử dụng, chưa gây thương tích cho ai. Ngày 02/11/2021, Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng là phù hợp.
Đối với 01 bình xịt hơi cay; 01 ống kim loại dài 75cm; 01 ống kim loại dài 76cm; 01 ống kim loại dài 67,5cm. Ngày 02/11/2021, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe mô tô 98Y5- 5973 và xe mô tô 98M1-131.84. Quá trình điều tra làm rõ là của chị Vũ Thị H , sinh năm 1989 (chị gái Đ ) và bà Hà Thị Thanh T , sinh năm 1983 (mẹ đẻ B ), chị H , bà T không biết Đ và Bình sử dụng để đi đánh nhóm chủa Nguyễn Hoàng H nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý
Vật chứng gồm : Xe mô tô 98L2 - 4091 do Vũ Nam Tr sử dụng chở Nguyễn Hoàng H và Lê Đình Đủ. Quá trình điều tra, Tr khai mua của một người đi đường vào tháng 8/2020 với giá 2.000.000 đồng. Kết quả giám định số khung xe đã bị đục số nguyên thủy nên Cơ quan điều tra đã tách chiếc xe này ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, khi nào xác định rõ sẽ xử lý sau.
Vật chứng còn lại gồm: 01 thanh phóng lợn; 01 gậy rút bằng sắt, Cơ quan điều tra chuyển cùng hồ sơ vụ án để giải quyết.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi pHm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 12/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố các bị cáo Trịnh Xuân H, Hà A T, Dương Đức D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.
T¹i phiªn toµ h«m nay các bÞ c¸o khai nhận toàn bộ hành vi pHm tội của mình như cáo trạng đã truy tố vµ tr×nh bµy: Các bị cáo thấy hành cầm hung khí đuổi theo Tr làm cho Tr bị tai nạn, bị thương tích 39% sức khỏe, là vi pHm pháp luật.
Đại diện hợp pháp cho các bị cáo và là nững người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều có ý kiến: Ông, bà là bố, mẹ của các bị cáo, quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ông, bà đều được chứng kiến các cơ quan lấy lời khai của các con ông, bà. Về việc bồi thường ông, bà đã đại diện cho các con đến gia đình bị Hi bồi thường,đến nay ông, bà không có ý kiến gì.
Bị Hi anh Vũ Nam Tr có mặt tại phiên tòa trình bày: Việc sẩy ra thương tích cho anh là do 02 nhóm có mâu thuẫn từ trước, sau khi bị tại nạn các bị cáo đã bồi thường cho anh tổng số tiền 90.000.000đồng đến nay anh không có yêu cầu gì.
Đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến gì bổ sung.
Trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo có ý kiến: Đồng ý với việc truy tố của Viện kiểm sát, đề nghị của các bị cáo được hưởng án treo vì các bị cáo khi phạm tội và khi xét xử vẫn chưa thành niên, nhận thức pháp luật bị hạn chế.
Người liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã co0ong bố lời khai tại cơ quan điều tra.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố: Đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Trịnh Xuân H, Hà A T, Dương Đức D về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị áp dụng theo quy định tại điểm c khoản 3 điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;điểm i khoản 1điều 52; Điều 65; Điều 17; Điều 47; Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1. - Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân H từ 02 năm 10 tháng đến 03 năm tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã Đào Mỹ, huyện C giám sát giáo dục trong thời gian thử thách
2. - Xử phạt Hà A T từ 02 năm 08 tháng đến 02 năm 10 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện C giám sát giáo dục trong thời gian thử thách
3. - Xử phạt Dương Đức D từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tíỉnh từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện C giám sát giáo dục trong thời gian thử thách
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh phóng lợn dài 86,5cm; 01 gậy rút bằng sắt dài 62cm ( loại gậy 03 khúc có thể rút ra, thu vào được).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Điều 5, Điều 23 Nghị Quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội buộc các bị cáo H, A T phải chịu án phí HSST, bị cáo D dưới 16 tuổi miễn nộp tiền tạm ứng án phí.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Nội dung vụ án: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 12/3/2021, tại thôn Am, xã Xuân Hương, huyện C; do có mâu thuẫn từ trước giữa nhóm của Trịnh Xuân H và Nguyễn Hoàng H, Trịnh Xuân H điều khiển xe mô tô chở Hà A T ngồi giữa cầm 01 thanh phóng lợn dài 86,5cm được chế tạo từ ống kim loại hình trụ tròn gắn với lưỡi dao nhọn, còn Dương Đức D ngồi sau cầm 01 gậy rút bằng sắt dài 62cm, tay cầm màu đen (loại gậy có 03 khúc có thể rút ra, thu vào được) đuổi phía sau xe mô tô do anh Vũ Nam Tr điều khiển chở Lê Đình Đ ngồi giữa, Nguyễn Hoàng H ngồi sau. Trong quá trình truy đuổi, tức giận việc anh Tr không dừng xe, đồng thời bị Nguyễn Hoàng H dùng mũ bảo hiểm ném trúng vào tay của A T và D nên Trịnh Xuân H điều khiển xe mô tô chạy nhanh, chèn ép xe mô tô của anh Tr để A T cầm thanh phóng lợn bằng tay phải chém, chọc đồng thời D cầm gậy rút bằng sắt ở tay phải vụt nhiều cái về phía xe của Tr làm Tr bị mất tay lái để xe mô tô lao xuống ruộng ở bên phải đường. Hậu quả Tr bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 39% sức khỏe.Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện Tr, kết quả thực nghiệm điều tra, với các kết luận giám định, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như vật chứng đã thu hồi, phù hợp với lời khai của người bị hại,người liên quan người làm chứng, phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội, đối với bị cáo D quá trình điều tra bị cáo D khai không có hành vi dùng gậy vụt vào anh Tr tuy nhiên lời khai của bị hại anh Tr, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh H, anh Đ , lời khai người làm chứng chị Đ , anh Q và tại phiên tòa hôm nay bị cáo D thừa nhận có cầm gậy vụt nhưng không trúng vào anh Tr. Từ những căn cứ trên, có đủ cơ sở để xác định các bị cáo Trịnh Xuân H, Hà A T, Dương Đức D đã có hành vi gây thương tích cho anh Vũ Nam Tr với tỷ lệ tổn thương sức khỏe 39%. HĐXX xét thấy Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo theo điểm c khoản 3 điều 134 Bộ luật hình sự là đúng. Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân huyện L¹ng Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo thì thấy: Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, nên cần phải có hành phạt nghiêm, mới cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Xét vai trò của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn nhưng không có dấu hiệu tổ chức, cấu kết chặt chẽ, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiê ̣m vu ̣ t ừ trước về việc thực hiện hành vi phạm tội Bị cáo Trịnh Xuân H và Hà A T có vai trò chính trong vụ án, bị cáo H chuẩn bị hung khí là người lái xe chở theo A T và D với tốc độ cao đuổi theo và chèn xe anh Tr yêu cầu dừng lại, bị cáo A T sau khi bị Nguyễn Hoàng H ném Mũ bảo hiểm vào tay đã dùng thanh phóng lợn chém chọc vào xe của Tr, do sợ nên Tr lái xe bỏ chạy và mất lái gây ra tại nạn, bị cáo D có vai trò thứ 2 trong vụ án bị cáo ngồi sau xe sau khi bị H ném mũ bảo hiểm vào tay đã dùng gậy rút đánh về phía xe của Tr tuy nhiên đánh không trúng nhưng cũng làm Tr sợ và bỏ chạy.
Về nhân thân, Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho anh Vũ Nam Tr là người dưới 16 tuổi nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin xem xét giảm nhẹ hình phạt, nên các bị cáo được áp dụng điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Trịnh Xuân H và Hà A T gia đình trực tiếp thờ cúng liệt sĩ nên được hưởng tình tiết quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo khi phạm tội và khi xét xử đều chưa đủ 18 tuổi, bị cáo D khi phạm tội là 14 tuổi 02 tháng 12 ngày, khi xét xử là 14 tuổi 11 tháng, bị cáo H khi phạm tội là 16 tuổi 03 tháng 12 ngày, khi xét xử là 17 tuổi, bị cáo A T khi phạm tội là 16 tuổi 11 tháng 26 ngày , khi xét xử 17 tuổi 08 tháng 14 ngày. Các bị cáo phạm tội nhận thức pháp luật hạn chế, theo quy định tại Điều 91 Bộ luật hình sự quy định về Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì: Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Các Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cứ trú rõ ràng, trước khi phạm tốt có nhân thân tốt, bị hại có đơn xin giamr nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết bắt các bị cáo phải cách ly xã hội mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát và giáo dục cũng đủ để giáo dục bị cáo thành người tốt sau này, như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của luật sư trợ giúp pháp lý cho các bị cáo đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo xét thấy có căn cứ để xem xét, chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội gia đình các bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại Vũ Nam Tr và bố đẻ là ông Vũ Văn Q đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu ai phải bồi thường gì thêm.
. Đối với các nội dung khác:
Đối với việc Hà Đức B điều khiển xe mô tô chở Vũ Mạnh Đ ngồi sau cầm bình xịt hơi cay xịt về phía xe của Vũ Nam Tr nhưng không ai bị thương tích gì sau đó Bình điểu khiển xe mô tô bỏ đi về thôn N, xã M, huyện C không tham gia truy đuổi anh Tr nữa nên hành vi của B và Đ không đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 02/11/2021, Công an huyện C phạt hành chính Đ số tiền 1.250.000 đồng về hành vi “xâm hại đến sức khỏe của người khác” và nhắc nhở đối với B là phù hợp.
Đối với Nguyễn Văn K , quá trình điều tra làm rõ: Khi thấy nhóm của Nguyễn Hoàng H tập trung đông ở khu vực Cầu mới thuộc xã M đã về nhà lấy 03 ống kim loại đem đến, mục đích để đánh nhóm của Nguyễn Hoàng H.Tuy nhiên Kiên chưa sử dụng, chưa gây thương tích cho ai. Ngày 02/11/2021, Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng là phù hợp.
Đối với 01 bình xịt hơi cay; 01 ống kim loại dài 75cm; 01 ống kim loại dài 76cm; 01 ống kim loại dài 67,5cm. Ngày 02/11/2021, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe mô tô 98Y5- 5973 và xe mô tô 98M1-131.84. Quá trình điều tra làm rõ là của chị Vũ Thị H , sinh năm 1989 (chị gái Đ ) và bà Hà Thị Thanh T , sinh năm 1983 (mẹ đẻ B ), chị H , bà T không biết Đ và B sử dụng để đi đánh nhóm chủa Nguyễn Hoàng H nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý
Vật chứng gồm : Xe mô tô 98L2 - 4091 do Vũ Nam Tr sử dụng chở Nguyễn Hoàng H và Lê Đình Đ . Quá trình điều tra, Tr khai mua của một người đi đường vào tháng 8/2020 với giá 2.000.000 đồng. Kết quả giám định số khung xe đã bị đục số nguyên thủy nên Cơ quan điều tra đã tách chiếc xe này ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, khi nào xác định rõ sẽ xử lý sau.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh phóng lợn dài 86,5cm; 01 gậy rút bằng sắt dài 62cm ( loại gậy 03 khúc có thể rút ra, thu vào được).
. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người bị Hi, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 3 điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;điểm i khoản 1điều 52; Điều 65; Điều 17; Điều 47; Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều Điều 106; Điều 135, Điều 136, Điều 332, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
[2]. Về hình pHt:
2.1 Xử phạt: Bị cáo Trịnh Xuân H 03 ( ba) năm tù, về tội “ Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 30/11/2021).
Giao bị cáo Bị cáo Trịnh Xuân H cho UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
2.2. Xử phạt: Bị cáo Hà A T 02 ( hai) năm, 10 ( mười) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 30/11/2021).
Giao bị cáo Hà A T cho UBND xã M, huyện C, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
2.3. Xử phạt : Bị cáo Dương Đức D 02 ( hai) năm, 06 ( sáu) tháng tù, về tội “ Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm( 30/11/2021) .
Giao bị cáo Dương Đức D cho UBND xã M ,huyện C, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp những người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Đối với các bị cáo được hưởng án treo trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
[3]. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh phóng lợn dài 86,5cm; 01 gậy rút bằng sắt dài 62cm ( loại gậy 03 khúc có thể rút ra, thu vào được).
[4]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo H, bị cáo A T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Dương Đức D không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
| Nơi nhận: -Bị cáo; -VKSND huyện C,. -TAND tỉnh Bắc Giang. - VKSND tỉnh Bắc Giang; -Chi cục THADS huyện C. -Công an huyện C - UBND xã M - UBND xã Đ. -Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ Toạ phiên toà Lê Thu Hà |