vanban.org

Bản án 116/2021/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 27/01/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/01/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận háng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Phạm Anh T.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2020/HS-ST ngày 25/3/2020 của T a án nhân dân tỉnh Khánh H a. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T (T khỉ) 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 23/11/2018 đến ngày 26/1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Phạm Anh T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận háng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Phạm Anh T.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 102 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 15 Bộ luật Hình sự Xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2021/HS-PT
Ngày: 27-01-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự

Các Thẩm phán: Ông Vũ Thanh Liêm và ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Liên – Thư T a án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trần Viết Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở T a án nhân dân tỉnh Khánh H a, T a án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử công hai vụ án hình sự phúc thẩm thụ l số 181/2020/TLPT-HS ngày 13 tháng 5 năm 2020 đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Phạm Anh T về tội “Giết người” do có háng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2020/HSST ngày 25/3/2020 của T a án nhân dân tỉnh Khánh H a.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Hoàng T (T khỉ); sinh ngày 24/6/2001 (thời điểm phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng 16 ngày); tại Khánh H a; nơi cư trú: Tổ 12 Vĩnh Hội, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh H a; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: hông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1963; mẹ: Võ Thị Thu T, sinh năm 1966; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/11/2018 đến ngày 26/11/2018, thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi hỏi nơi cư trú từ ngày 27/11/2018 cho đến nay; bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Nguyễn Phạm Anh T (Tốt ti); sinh ngày 12/3/2002 (thời điểm phạm tội bị cáo 16 tuổi 02 tháng 25 ngày); tại Khánh H a; nơi cư trú: Tổ 4 Ngọc Hội, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh H a; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: hông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; cha: Nguyễn Qu T, sinh năm 1977; mẹ: Phạm Thị Xuân T, sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08/QĐ-XPVPHC ngày 15/5/2018 của Công an phường N xử phạt 1.250.000 đồng về hành vi tàng trữ các loại dao, búa nhằm mục đích cố gây thương tích cho người hác.

Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Huỳnh Văn T - Luật sư của Công ty Luật TNHH Một thành viên A, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh H a (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: thành phố N, tỉnh Khánh H a.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23h00 ngày 08/6/2018, Trương Lê Minh H, Đặng Tấn D, Ngô Quốc C, Nguyễn Phạm Anh T, Trương Minh T1, Huỳnh Nghĩa H và Lê Anh H đến hát Karao e tại ph ng 205 tầng 02 quán L tại số 23-25 đường V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh H a.

Đến khoảng 03h00 ngày 09/6/2018, Minh H đi ra ngoài và lên tầng 04 thì xảy ra mâu thuẫn và đánh nhau bằng tay chân với hai anh em Nguyễn Tấn D và Nguyễn Tấn D1 (đang hát tại ph ng 404) nên H về lại ph ng 205 nói cho nhóm bạn biết là mình bị đánh. Sau đó, Minh H cùng với Nghĩa H, Đặng Tấn D, Ngô Quốc C mỗi người cầm 01 ly uống bia bằng thủy tinh đi tìm D1 và D. Khi ra cầu thang bộ ở tầng 02, Minh H thấy D đang đi từ dưới lên nên Minh H liền éo D ra sảnh tầng 02 và dùng tay, chân đánh D. D bỏ chạy vào nhà vệ sinh ph ng 204 để trốn. Lúc này, Võ Văn H1 và một số đối tượng (chưa rõ lai lịch) từ ph ng 203 đi ra. Minh H nói với H1 là bị D đánh và D hiện đang trốn trong ph ng 204. Lúc đó, H1 cầm 01 con dao bấm cùng một số đối tượng đi vào ph ng 204 đến đập cửa nhà vệ sinh, nói D mở cửa nếu hông sẽ bị giết. Nghe vậy, D mở cửa thì H1 éo D ra khỏi ph ng 204, dùng chân đạp vào người D và bắt D xin lỗi nhóm Minh H đang đứng xung quanh. Minh H cầm ly bia đập vào đầu D làm chảy máu đầu. Lúc này, Nguyễn Văn C, Nguyễn Đức T2 và một số bạn đang hát tại ph ng 206 nghe ồn ào đi ra, thấy D bị đánh nên ra can ngăn, C vào ôm D éo vào thang máy, T2 cũng vào can ngăn thì bị Minh H xông vào dùng tay, chân đánh nên T2 cầm 02 ly thủy tinh ném lại nhóm Minh H. Thấy T2 bị đánh, Văn C rút dao trong người ra dọa. Do biết Văn C nên nhóm Minh H và H1 bỏ đi vào ph ng 203. Văn C, T2 éo đến ph ng 203 chửi H1, T2 dùng tay đấm 01 cái vào mặt H1. Sau đó, T2, Văn C xuống sảnh ở tầng 01 để tính tiền ra về. D1 và D được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện T3 Trí.

Trong hi hai nhóm ình cãi, thách đố đánh nhau tại tầng 02 thì Minh H đi xuống trước cửa quán gọi điện thoại cho Châu Kim Sinne H2 nói chuẩn bị hung hí mang đến quán L để đánh lại nhóm T2. H2 đồng và rủ Nguyễn Hoàng T, Đặng Tấn T3 mang theo 03 cây đao, 03 cây mác đến quán L.

Trong thời gian chờ H2 đến, Minh H đứng trước quán và gọi điện thoại cho Ngô Quốc C đang ngồi trong ph ng 203 cùng H1, D, Nghĩa H. Minh H hỏi Quốc C: Nhóm T2, Văn C c n ở trên đó hông, thì Quốc C trả lời: Đang c n ở ngoài, sau đó Minh H nói: “Đang gọi anh em đến”, rồi tắt máy. C nói lại nội dung này cho những người trong ph ng 203 nghe và cả nhóm rủ nhau đi bằng thang máy xuống tầng 01 để xem tình hình như thế nào. Lúc này, Nguyễn Phạm Anh T và Trương Minh T1 đang ở ngoài sảnh tầng 02 thấy nhóm của Quốc C đi xuống nên đi bộ xuống theo.

Khi H2, T và T3 đến quán L gặp Minh H, Minh H kể lại sự việc đánh nhau. Sau đó, H2 cầm 01 cây mác, T3 cầm 02 cây đao, T cầm 01 cây mác và 01 cây đao, Minh H cầm 01 cây mác rồi chạy vào sảnh tầng 01 của quán. Khi thấy T2, Minh H chỉ tay về phía T2 hô: “Thằng áo trắng, thằng áo trắng”, nghe vậy thì H2, T3, T và H cầm hung hí đuổi theo T2. T2 bỏ chạy về hướng thang máy thì gặp H1 đang đi ra nên H1 cầm dao đâm 01 nhát vào vùng bụng T2. T2 bỏ chạy về hướng cầu thang bộ lên tầng 02 thì H1, Minh H, H2, T và T3 tiếp tục đuổi theo. Lúc này, T đưa cho H1 01 cây đao và hi vào thang bộ thì T3 gặp T đang đi xuống nên đưa cho T 01 cây mác. Cả nhóm cầm hung hí đi lên tầng 02 tìm T2 nhưng hông thấy nên đi xuống và ra cửa chính của quán.

Lúc này, Đinh Tấn D và Phù Thành L đến để hát Karao e cùng với nhóm của T2, biết việc T2 bị H1 đâm trúng bụng nên đi theo sau nhóm của Minh H. Thấy T là người đi sau cùng hông để nên D đến giật cây mác T đang cầm. T giằng lại được cây mác, đạp D 01 cái và la to thì cả nhóm cầm hung hí nhào vào chém D. H2 cầm mác chém vào vai, T cầm đao chém vào đầu và chân, T3 cầm đao chém vào chân. H1, Minh H, T cũng nhào vào chém nhưng do đông người và D bỏ chạy nên hông chém được, T đuổi theo một đoạn nhưng hông ịp nên quay lại. Sau đó, các đối tượng bỏ đi, T2 và D được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa hoa tỉnh Khánh H a.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 167/TgT, ngày 20/6/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hoà ết luận thương tích của anh Nguyễn Đức T2 như sau: Thủng đầu tụy, xuyên gan. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 65 %.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 168/TgT, ngày 20/6/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh H a ết luận thương tích của anh Đinh Tấn D như sau: vùng đầu nứt xương đỉnh phải, vùng vai trái: gãy xương bả vai trái và vùng đùi phải: có 03 sẹo lớn và 01 sẹo nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 38 %.

Tại B n án hình sự s th m s 19/2020/HS-ST ngày 25/3/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đ quy t định:

Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và hoản 2 Điều 51 Điều 15, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T (T khỉ) 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 23/11/2018 đến ngày 26/11/2018.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và hoản 2 Điều 51 Điều 15, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Anh T (T) 04 (b n) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Bản án sơ thẩm c n xử phạt 04 bị cáo hác củng về tội danh trên với mức án từ 05 năm 06 tháng tù đến 15 năm tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử l vật chứng, án phí, tuyên quyền háng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/03/2020, bị cáo Nguyễn Hoàng T háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 01/4/2020, bị cáo Nguyễn Phạm Anh T háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc th m:

Bị cáo giữ nguyên nội dung háng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luận cứ của Luật sư bào chữa cho bị cáo có nội dung: Về định tội danh: hoàn toàn đồng quan điểm truy tố, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; về xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên t a sơ thẩm, bản án sơ thẩm đã xem xét toàn diện, đầy đủ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm án để cho các bị cáo có cơ hội cải tạo tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên t a phúc thẩm, các bị cáo đã hai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với kết luận giám định pháp y và các tài liệu chứng cứ hác có trong hồ sơ, từ đó có cơ sở xác định: Khoảng 03 giờ ngày 09/6/2018, tại quán Karao e L địa chỉ số 23 - 25 đường V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh H a. Do có xích mích với nhau khi ở trong quán giữa Trương Lê Minh H, Võ Văn H1 với Nguyễn Đức T2, nên Trương Lê Minh H đã gọi điện thoại cho Châu Kim Sinne H2, Nguyễn Hoàng T và Đặng Tấn T3 cầm hung hí lên để đánh Nguyễn Đức T2. Khi H và nhóm H2 đến quán nhìn thấy T2 thì H la to lên để H2, T, T3 thấy và cùng H cầm hung hí chạy vào quán đuổi đánh T2. T2 bỏ chạy vào quán thì bị Võ Văn H1 từ trong đi ra (do H1 nghe H gọi trước đó), thấy T2 chạy vào H1 lấy 01 con dao bấm giấu trong người và đâm 01 nhát trúng vào bụng của Trường làm T2 bị trọng thương bỏ chạy, cả nhóm tiếp tục đuổi theo nhưng hông kịp. Lúc này, Đinh Tấn D thấy T2 bị H1 đâm nên đi theo sau nhóm của Minh Hiểu, thấy T là người đi sau cùng, nên D định giật cây mác T đang cầm đánh lại nhóm T thì bị T phát hiện, giằng lại cây mác, đạp D và la to lên thì cả nhóm quay lại đánh D. H2 cầm mác chém vào vai D, T cầm đao chém vào đầu và chân D, T3 cầm đao chém vào chân D; H1, H, T cũng cầm mác nhào vào chém D nhưng do đông người và D vùng bỏ chạy nên nhóm T hông chém được nữa. Người bị hại T2, D bị thương tích ở vùng trọng yếu của cơ thể, có hả năng gây chết người.

T a án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội: “Giết người” với tình tiết định hung tăng nặng “có tính chất côn đồ” và “phạm tội đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự và xét xử bị cáo Nguyễn Phạm Anh T với tình tiết định hung tăng nặng phạm tội “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự (do tham gia thực hiện hành vi phạm tội đối với một người) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét háng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo:

Bị cáo T là người thực hành tích cực, trực tiếp gây ra hậu quả tội phạm. Bị cáo có hành vi cầm đao chém vào đầu và chân anh D, cùng đồng phạm cầm mác đuổi theo anh T2 để H1 chặn đâm anh T2, thể hiện tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm,

Bị cáo T là người thực hành tích cực, bị cáo đã giằng lại cây mác hi anh D giựt và đạp vào người anh D, đồng thời hô to cho các đồng phạm hác biết để quay lại cầm đao, mác lao vào chém anh D. T a án cấp sơ thẩm xét bị cáo chỉ tham gia 01 vụ nên tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấp hơn, do đó hình phạt thấp hơn các bị cáo hác.

T a án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo: hai báo thành hẩn; phạm tội chưa đạt (hậu quả chết người chưa xảy ra); các bị cáo đã bồi thường cho người bị hại, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo T, T khi phạm tội đều dưới 18 tuổi nên nhận thức và hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, nên đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 và hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo hi lượng hình, xử phạt bị cáo T 05 năm 06 tháng tù, bị cáo Tú 04 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội. Sau hi xét xử sơ thẩm, các bị cáo hông có tình tiết giảm nhẹ mới nên hông có cơ sở chấp nhận háng cáo xin giảm hình phạt.

Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, hông bị háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận háng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Phạm Anh T.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2020/HS-ST ngày 25/3/2020 của T a án nhân dân tỉnh Khánh H a.

1. Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và hoản 2 Điều 51 Điều 15, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T (T khỉ) 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 23/11/2018 đến ngày 26/11/2018.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và hoản 2 Điều 51 Điều 15, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Anh T (Tốt ti) 04 (b n) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Án phí hình sự phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Phạm Anh T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, mỗi người 200.000đ.

3. Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, hông bị háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ