vanban.org

Bản án 116/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 24/11/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN
THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 24-11-2021
V/v "Tranh chấp ly hôn"

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông!Nguyễn Quyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Thanh Phú

Bà Trương Ngọc Diện

- Thư ký phiên tòa: Bà Thị Hoàng Oanh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2021 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn!Thị!Mộng!L,!sinh năm 1992

Địa chỉ: phường H, quận C, thành phố Cần Thơ (Việt Nam). (Xin xét xử vắng mặt)!

- Bị đơn: Ông KIM!MUNSU,!sinh năm 1976

Địa chỉ: beon – gil, Namdong – gu, Incheon Metropolitan, Korea. (Vắng mặt)

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng L trình bày và yêu cầu:

Bà và ông KIM MUNSU qua quen biết hai bên tự nguyện tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc có ghi chú kết hôn tại Sở tư pháp thành phố Cần Thơ (Việt Nam) số 419 ngày 17/4/2014. Sau khi kết hôn ông KIM MUNSU bảo lãnh bà qua Hàn Quốc sống chung, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó do bất đồng ngôn ngữ, quan điểm sống, tính cách không hợp nên thường xuyên cải nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, bà và ông KIM MUNSU sống ly thân từ cuối năm 2014 đến nay không còn liên lạc được với ông và cũng không hàn gắn được. Nay mục đích hôn nhân không đạt được, bà cũng không còn tình cảm vợ chồng với ông KIM MUNSU nên yêu cầu ly hôn.

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mộng L!yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ (Việt Nam) giải quyết cho bà được ly hôn với ông KIM MUNSU

- Về con chung và tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra yêu cầu giải quyết.

Do bị đơn là ông KIM MUNSU vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không rõ ý kiến.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa thể hiện, những người tiến hành tố tụng, đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, qua xem xét các tài liệu chứng cứ đã thẩm tra, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà L khởi kiện xin ly hôn với ông KIM MUNSU cư trú tại Hàn Quốc nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, phù hợp với quy định tài khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bà L đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông KIM MUNSU đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt. Trên cơ sở đó, Tòa án mở phiên tòa xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.

[2] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà L và ông KIM MUNSU là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian ngắn chung sống hạnh phúc thì hai bên phát sinh mâu thuẩn và không còn sống chung nữa, tình trạng ly thân giữa vợ chồng kéo dài đã lâu, không còn liên lạc với nhau nên không thể hàn gắn được. Xét thấy mục đích hôn nhân giữa bà L và ông KIM MUNSU không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, cho bà L được ly hôn với bà ông KIM MUNSU, phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà L khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu khởi kiện của đương sự.

[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác tư pháp, chi phí thông báo tố tụng, nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 6 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên!xử:!

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mộng L

- Về hôn nhân: cho bà Nguyễn Thị Mộng L được ly hôn với ông KIM MUNSU.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà L trình bày không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mộng L phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 000186 ngày 12 tháng 01 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà Linh đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

3. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Mộng L phải chịu 200.000đồng lệ phí ủy thác tư pháp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 200.000đồng theo biên lai thu số 0005124 ngày 09/03/2021 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà Linh còn phải chịu chi phí đăng thông báo tố tụng cho ông KIM MUNSU. Bà Linh đã nộp đủ chi phí tố tụng.

4. Về quyền kháng cáo: Bà L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, ông KIM MUNSU được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.

Cỡ chữ