- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2020/HS-ST ngày 19/5/2020 của Toà án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương như sau:
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2020/HS-PT Ngày: 11-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - h t a phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sang;
Thẩm phán thành viên: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Ông Trương Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2020 t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số: 98/2020/TLPT-HS ngày 22 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo Hoàng Thị L. Do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2020/HS-ST ngày 19/5/2020 của Toà án nhân dân thành phố D tỉnh Bình Dương.
Bị cáo có kháng cáo:
Hoàng Thị L sinh năm 1980 t i tỉnh Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú: Thôn 5, xã M huyện S tỉnh Thanh Hóa; t m trú: Số 104/32, khu phố T phường B thành phố D tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Khắc K và bà Trần Thị M; bị cáo có chồng là Lê Ngọc V và 03 người con (người lớn sinh năm 2003 người nhỏ sinh năm 2006); tiền án tiền sự: Không; bị cáo bị t m giữ từ ngày 13/11/2019 đến ngày 21/11/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo t i ngo i cho đến nay có mặt t i phiên tòa.
Ngoài ra trong v án còn có bị h i người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 05/10/2019, Hoàng Thị L điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đi từ phòng trọ t i khu phố N1 phường M Quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh đến địa bàn phường S, thành phố D, tỉnh Bình Dương để lượm ve chai. Khi đi đến công trình xây dựng nhà t i Số 10/3, khu phố Tây A phường S, thành phố D tỉnh Bình Dương Hoàng Thị L dựng xe ngoài rồi đi vào bên trong công trình xây dựng để lượm bao bì bìa carton. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, ông Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda AirBlade màu đen biển số 61D1-767.25 đến công trình xây dựng nhà, để coi công trình. Khi đến nơi ông Nguyễn Văn Đ m cốp xe ra lấy tiền trả cho công nhân xây dựng rồi đi vào trong công trình nhưng quên đóng cốp xe l i bên trong cốp xe có số tiền 68.000.000 đồng, gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 200.000 đồng được bó thành 02 cọc. Lúc này Hoàng Thị L đi ra đến cổng công trình thì nhìn thấy xe mô tô biển số 61D1-767.25 không đóng cốp m yên cao bên trong có số tiền 68.000.000 đồng. Thấy xung quanh không có người Hoàng Thị L đến lấy số tiền 68.000.000 đồng trên bỏ vào cốp xe mô tô của mình rồi ch y về phòng trọ t i khu phố N1 phường M Quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu. Đến ngày 07/10/2019, Hoàng Thị L lấy số tiền 68.000.000 đồng và thêm 2.000.000 đồng để gửi về quê cho bà Nguyễn Thị Lan A(là chị dâu của Hoàng Thị L). Đến ngày 13/11/2019, Hoàng Thị L tiếp t c nhặt ve chai khu vực phường D thành phố D thì bị ông Nguyễn Văn Đ phát hiện nên mời về tr s Công an phường D. Khi đến tr s Công an phường D, Hoàng Thị L đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình.
Đối với bà Nguyễn Thị Lan A nhận tiền chuyển của Hoàng Thị L mà không biết số tiền đó là do ph m tội mà có nên không đề cập xử lý.
Vật chứng thu giữ; xử lý vật chứng: Số tiền 10.0000.000 đồng là tài sản của Hoàng Thị L không liên quan đến v án đã trả l i cho bị cáo Hoàng Thị L; 01 (một) phiếu giao dịch tiền mặt ngày 07/10/2019 với nội dung chuyển số tiền 70.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Lan A đã trả l i cho bị cáo Hoàng Thị L.
T i Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2020/HS-ST ngày 19/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố D tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị L ph m tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử ph t bị cáo Hoàng Thị L 02 (hai) năm tù thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt giam chấp hành án được khấu trừ thời gian t m giữ từ ngày 13/11/2019 đến ngày 21/11/2019.
Ngoài ra bản án còn tuyên về biện pháp tư pháp án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố t ng khác.
Ngày 21/5/2020 bị cáo Hoàng Thị L kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và được hư ng án treo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về thời h n kháng cáo đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Lđúng theo thời h n luật định. Về nội dung bị cáo kháng cáo xin hư ng án treo xét thấy bị cáo ph m tội lần đầu thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; tài sản chiếm đo t đã thu hồi giao trả cho bị h i; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, đủ điều kiện hư ng án treo theo quy định t i Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm 163/2020/HS-ST ngày 19/5/2020 của Toà án nhân dân thành phố D tỉnh Bình Dương theo hướng xử ph t bị cáo Hoàng Thị L 02 (hai) năm tù nhưng cho hư ng án treo thời gian thử thách là 04 (bốn) năm thời gian thử thách tính kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t và cho bị cáo được hư ng án treo t o điều kiện cho bị cáo tiếp t c lao động để nuôi chồng đang bị bệnh và các con đang độ tuổi ăn học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 05/10/2019, t i công trình xây dựng nhà Số 10/3 khu phố Tây A phường S, thành phố D tỉnh Bình Dương bị cáo Hoàng Thị Lcó hành vi lén lút chiếm đo t số tiền 68.000.000 đồng của bị h i Nguyễn Văn Đ(tiền để trong cốp xe biển số 61D1-767.25 của ông Nguyễn Văn Đ). Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định t i điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo như tội danh và điều, khoản nên trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị L: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất mức độ ph m tội xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử ph t bị cáo 02 (hai) năm tù. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và được hư ng án treo.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi ph m tội bị cáo đã đầu thú thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt h i khắc ph c hậu quả; tài sản thu hồi giao trả cho bị h i; tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội không lớn bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i các điểm b s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo có nhân thân tốt ngoài lần ph m tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy trường hợp của bị cáo đủ điều kiện để được hư ng án treo theo quy định t i Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội t o điều kiện cho bị cáo được tự cải t o sửa chữa bản thân làm người có ích cho xã hội; đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người ph m tội biết ăn năn hối cải đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người ph m tội.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị L. Quan điểm giải quyết v án của đ i diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Hoàng Thị L không phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2020/HS-ST ngày 19/5/2020 của Toà án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương như sau:
Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
Xử ph t: Bị cáo Hoàng Thị L02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hư ng án treo thời gian thử thách là 04 năm thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 11/8/2020).
Giao bị cáo Hoàng Thị Lvề Ủy ban nhân dân phường B thành phố D tỉnh Bình Dương trực tiếp giám sát giáo d c trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Hoàng Thị L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định t i khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hư ng án treo cố ý vi ph m nghĩa v 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hư ng án treo phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hư ng án treo.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Hoàng Thị L không phải nộp.
3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND thành phố D; 2 - VKSND thành phố D; 1 - Chi c c THADS thành phố D; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an thành phố D; 2 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 - Bị cáo; 1 - UBND phường B, Tp. D; 1 - Lưu: Tổ HCTP HSVA, Tòa HS. 3 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Sang |