vanban.org

Bản án 116/2019/HSST — Hình sự

TAND TX. Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 28/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Hồng Th phạm tội “Trộm cắp tài sản.

Xử phạt: Võ Hồng Th 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2019. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 28/6/2019 để đảm bảo thi hành án. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hồng Th phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Hồng Th phạm tội “Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TỪ SƠN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2019/HSST
Ngày 28 tháng 6 năm 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Ngọc Sáng, bà Nguyễn Thị Nhung.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn tham gia phiên tòa: Bà Thân Thanh Huyễn - Chức vụ: Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại nhà văn hóa khu phố 3, Cẩm Giang, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn. Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/QĐXX- ST ngày 13/6/2019 đối với bị cáo:

Võ Hồng Th - Sinh năm 1984.

HKTT: Số nhà 102, ngõ 5, khối 4, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: kinh; Tôn Giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Bố đẻ: Võ Văn C, sinh năm 1957 (chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1958; gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là thứ 02.

Tiền án: Không

Tiền sự: Có 01. Ngày 24/02/2019 bị Công an thị xã Từ Sơn xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đến nay Thái chưa chấp hành xong việc nộp tiền.

Nhân thân:

+ Ngày 27/8/2000 bị Công an phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính bằng hình thức (cảnh cáo) về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Tại Bản án số 242 ngày 29/5/2002 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tô ̣i “Trộm cắp tài sản”, sau đó Thái chưa đi chấp hành án. Trong thời gian chưa đi chấp hành án, ngày 27/3/2005 Thái tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đến ngày 28/7/2005 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 242 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội buộc Thái phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 17 tháng tù. Đến ngày 28/8/2006, Thái chấp hành xong hình phạt tù ra trại và đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.

+ Tại Bản án số 117/2015/HSST ngày 22/4/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đến ngày 07/01/2017, Thái chấp hành xong hình phạt tù ra trại và đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2019 tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

Người bị hại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957.

HKTT: Khu phố Vĩnh Kiều 2, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố về hành vi như sau:

Võ Hồng Th, sinh năm 1984, HKTT: Khối 4, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, là đối tượng có nhân thân xấu và đã có 01 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa. Do bản thân không có nghề nghiệp ổn định và thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy nên Th đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản của người khác mang bán lấy tiền chi tiêu. Để thực hiện ý định, khoảng 19h ngày 05/3/2019, Th đi bộ lang thang từ khu vực bến xe thị xã Từ Sơn đến khu phố Vĩnh Kiều 2, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn với mục đích tìm kiếm xem có ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp mang bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khi Thái đi qua khu vực trước cửa nhà ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957 ở khu phố Vĩnh Kiều 2, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn thì phát hiện thấy cửa nhà mở, tại vị trí gần cửa ra - vào ông T có dựng 01 chiếc xe đạp, sơn màu xanh, kiểu dáng xe nữ, đầu xe hướng vào trong nhà, đuôi xe hướng ra ngoài đường, xung quanh vắng vẻ, không có người đi lại. Thấy điều kiện sơ hở, Th liền đột nhập vào trong rồi tiến đến gần vị trí chiếc xe dắt ra phía ngoài đường, ngồi lên yên xe, đạp bỏ chạy. Đúng lúc này có ông T từ trong nhà đi ra nhìn thấy Th đột nhập vào trong nhà trộm cắp chiếc xe của gia đình nên ông liền đuổi theo và hô hoán “Trộm, trộm”. Thấy bị phát hiện, Th tiếp tục đạp chiếc xe bỏ chạy được một đoạn thì bị anh Phan Văn Thóc, sinh năm 1979 và anh Nguyễn Văn Tiệm, sinh năm 1977, đều trú tại khu phố Lễ Xuyên, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn cùng một số người dân nghe thấy ông T hô hoán trước đó đuổi theo bắt giữ cùng vật chứng là chiếc xe đạp Th vừa trộm cắp được. Cùng ngày ông T đã trình báo Công an phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn đến tiếp nhận và đưa Th cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Đồng Nguyên để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó Công an phường Đồng Nguyên đã bàn giao Th cùng vật chứng và các tài liệu liên quan cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Từ Sơn để giải quyết theo thẩm quyền.

Trên cơ sở yêu cầu định giá của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Từ Sơn, ngày 11/3/2019 Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Từ Sơn đã ban hành Bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐG, kết luận: “01 chiếc xe đạp sơn màu xanh, kiểu dáng xe nữ đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 05/3/2019 là 200.000đ”.

Quá trình điều tra chiếc xe đạp được xác định thuộc sở hữu của gia đình ông Nguyễn Văn T. Tại Cơ quan điều tra ông Tuệ đại diện gia đình đã nhận lại chiếc xe nêu trên. Về trách nhiệm dân sự đến nay ông T và gia đình không yêu cầu gì.

Tại Cơ quan điều tra, và tại phiên tòa bị cáo Võ Hồng Th đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 104/CT- VKS ngày 30/5/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Võ Hồng Th về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a, khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã đưa ra chứng cứ, lý lẽ và sau khi phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết liên quan đến trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Hồng Th về tội "Trộm cắp tài sản". Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 173; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51BLHS. Xử phạt bị cáo Võ Hồng Th từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2019, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, khi nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của người bị hại, người làm chứng có trong hồ sơ, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là thống nhất với lời khai của người bị hại, vật chứng vụ án. Đã đủ căn cứ khẳng định, ngày 05/3/2019 bị cáo Th đã có hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở của ông Tuệ lấy 01chiếc xe đạp cũ, trị giá 200.000đ của bị cáo. Do bị cáo đã có 01 tiền sự về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa do vậy là căn cứ để truy tố bị cáo. Lần phạm tội này bị cáo trộm cắp tài sản có giá trị dưới 02 triệu đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 173 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn truy tố bị cáo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và nhân thân của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tài sản của công dân mà còn làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang nghi ngờ lẫn nhau. Đối với bị cáo là người có nhân thân xấu đã bị đưa ra xét xử nhiều lần mặc dù đã được xóa án. Do vậy với bị cáo cần phải có một mức hình phạt tương xứng cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về vật chứng và dân sự của vụ án: 01 chiếc xe đạp cũ đã được trả cho ông T, ông T không có ý kiến gì nên không xem xét trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Võ Hồng Th phạm tội “Trộm cắp tài sản.”

Áp dụng điểm a, khoản 1, điều 173; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51BLHS; Điều 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử phạt: Võ Hồng Th 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2019. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 28/6/2019 để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ