- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Không ch p nhận kháng cáo của bị đơn bà Châu Thị Mỹ H và của người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 116/2019/DS-PT Ngày: 29/11/2019 V/v tranh ch p ch p h p đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thiên Hương
Ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Xuân Ngọc, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Bà hạm Thị Thanh Thủy, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28/11/2019 và 29/11/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2019/TLPT-DS ngày 15/10/2019 về việc: “Tranh ch p h p đ ng vay tài s n”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2019/DS-ST ngày 17/7/2019 của Toà án nhân dân huyện Hàm Tân bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 227/2019/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Đ, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Số nhà 68, thôn 4, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Cao Văn H, sinh năm 1960; địa chỉ: hòng 503, khu nhà C, chung cư V, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (theo văn bản ủy quyền ngày 28/02/2019 tại văn phòng công chứng La Gi).
2. Bị đơn: Bà Châu Thị Mỹ H, sinh năm: 1976.
Địa chỉ: Thôn 4, x S, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Trần Anh D, sinh năm 1985; địa chỉ: 126B/4 đường L, phường 11, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (theo văn bản ủy quyền ngày 20/5/2019 tại Ủy ban nhân dân x S, huyện T, tỉnh Bình Thuận).
3. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Thôn 4, x S, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Trần Anh D, sinh năm 1985; Địa chỉ: 126B/4 đường L, phường 11, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (theo văn bản ủy quyền ngày 20/5/2019 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận).
4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Châu Thị Mỹ H và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ng i đ i di n theo ủy quy n của nguyên đơn, ông Cao Văn H trình bày: Giữa nguyên đơn và bị đơn Châu Thị Mỹ H là ch quen biết và c ng trú tại thôn 4, x S, huyện T nên r t tin tưởng nhau. Đầu năm 2018 bị đơn đặt v n đề vay tiền của nguyên đơn để đáo hạn ngân hàng và cho một số người khác vay lại để hưởng chênh lệch l i su t. Theo thỏa thuận l i su t cho vay 1,5% tháng, thời hạn vay không thỏa thuận nhưng phải báo trước một thời gian h p lý. Vì chưa có kinh nghiệm cho vay nên m i lần vay nguyên đơn yêu cầu bị đơn tự tay viết vào sổ gốc số tiền vay và giữ sổ gốc. Tại cuốn sổ gốc có ghi nhiều lần nhưng từ ngày 2/6 âm lịch năm 2018 nguyên đơn yêu cầu bị đơn gộp các khoản n trước đó cho dễ đối chiếu theo dõi. Đối với các khoản n đ thanh toán xong gốc l i bị đơn d ng viết gạch ngang (xóa), đối với các khoản chưa trả gốc l i không bị gạch. Với các khoản đ thanh toán l i thì nguyên đơn dùng bút màu ghi phía sau, số tiền bị đơn chưa thanh toán (chưa bị gạch, xóa) cho nguyên đơn là 3.105.000.000đ. Nguyên đơn yêu cầu bà H và ông Nguyễn Anh T phải hoàn trả 3.105.000.000đ. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu bị đơn phải hoàn trả số tiền vay trả góp còn thiếu là 390.000.000đ. Nguyên đơn ch p nhận bị đơn đ trả 195.000.000đ, số n còn lại bị đơn chưa trả. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan phải trả số n còn lại là 3.300.000.000đ
Bị đơn bà Châu Thị M H trình bày: Bà không thừa nhận có vay tiền của bà Đ như bà Đ trình bày, theo bà thì trong thời gian bà Đ cho người khác vay tiền thì bà Đ có rủ bà đi c ng. Bà Đ khi cho người khác vay tiền thì nhờ bà ghi giúp vào sổ cho bà Đ theo dõi và bà Đ trả tiền hoa hồng cho bà. Do đó bà thừa nhận chữ viết trong gi y mà bà Đ cung c p là chữ viết của bà, đồng thời bà thừa nhận chữ “tr" trong gi y nghĩa là triệu, 200tr là 200 triệu. Ngoài ra trên tờ gi y ghi n do bà viết có ghi chữ H-T, bà thừa nhận H, T là tên của v chồng bà, sở dĩ ghi như vậy là do bà Đ yêu cầu ghi để bà Đ dễ theo dõi vì trong sổ ghi nhiều tên.
Với yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà Đ là 390.000.000đ, bà thừa nhận là cũng do bà viết nhưng bà chỉ thừa nhận có vay trả góp với số tiền còn thiếu hiện nay là 260.000.000đ, với số tiền bà ghi vào ngày 7/7 âm lịch là 80.000.000đ, ngày 16/7 âm lịch là 50.000.000đ đây là số tiền bà ghi gi m do đó bà không thừa nhận. Trong quá trình giải quyết vụ án bà H đ xu t trình chứng cứ đ trả cho bà Đ 195.000.000đ trong số 390.000.000đ, nay bà xác định còn n khoản vay trả góp là 65.000.000đ. Bà đồng ý trả cho bà Đ 65.000.000đ.
Sau khi hoà giải không thành, Toà án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận đ đưa vụ án ra xét xử.
Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2019/DS-ST ngày 17/7/2019 của Toà án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận đ căn cứ các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 466, 469 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 37 Luật Hôn nhân – Gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Ch p nhận yêu cầu của bà Bà Đoàn Thị Đ.
- Buộc v chồng ông bà Châu Thị Mỹ H, Nguyễn Anh T phải trả cho bà Bà Đoàn Thị Đ số tiền là 3.300.000.000đ (ba tỷ ba trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người đư c thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i su t quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường h p pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/7/2019, bị đơn bà Châu Thị Mỹ H, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đại diện ủy quyền của bị đơn cho rằng các yêu cầu của nguyên đơn không có cơ sở (trừ khoản đư c bị đơn ch p nhận là 65.000.000đ), tuy nhiên Tòa án c p sơ thẩm đ vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đó là vi phạm thời hạn c p bản án; bản án đ tuyên không giống với bản án phát hành nhưng không có thông báo sửa chữa, bổ sung bản án mà tự phát hành bản khác với bản án đ tuyên. Do vậy, đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để Tòa án nhân dân huyện T giải quyết lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đ thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Toà án c p phúc thẩm.
Về nội dung: Với những chứng cứ mà nguyên đơn cung c p không đủ căn cứ để kh ng định giữa nguyên đơn và bị đơn đ xác lập h p đồng vay tài sản cũng như việc nguyên đơn đ giao tiền cho bị đơn; lời khai của nguyên đơn chỉ đư c bị đơn và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ch p nhận một phần là 65.00.000đ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ch p nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm, ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là 65.000.000đ; không ch p nhận các yêu cầu khác của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đ đư c thẩm tra tại phiên toà và căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên toà, yêu cầu của các bên đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
.Về thủ tục tố tụng: Bà Châu Thị Mỹ H, ông Nguyễn Anh T kháng cáo trong thời hạn luật định nên đủ căn cứ pháp lý để xem xét yêu cầu kháng cáo của bà Châu Thị Mỹ H, ông Nguyễn Anh T theo trình tự phúc thẩm.
.Về việc bản án sơ thẩm đ tuyên và bản án phát hành: Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng, Tòa án nhân dân huyện T khi tuyên án chỉ buộc bị đơn bà Châu Thị Mỹ H, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T phải trả cho nguyên đơn 3.200.000.000đ, bị đơn, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan phải chịu 96.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng bản án phát hành mà bị đơn, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan nhận đư c thì lại buộc bị đơn, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan phải trả cho nguyên đơn 3.300.000.000đ và bị đơn, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan phải chịu 98.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan cho rằng Tòa án sơ thẩm đ vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên đề nghị hủy án sơ thẩm. Ngày 26/11/2019, chủ tọa phiên tòa sơ thẩm có văn bản thừa nhận đ tuyên án như đại diện bị đơn, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan trình bày, sau khi tuyên án xong và chưa phát hành bản án thì Hội đồng xét xử sơ thẩm đ phát hiện ra sai sót về số liệu tính toán và đ điều chỉnh lại bản án mà không làm thủ tục thông báo sửa chữa, bổ sung bản án. Hội đồng xét xử xét th y: C p sơ thẩm đ ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tổng số tiền mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan phải trả là 3.300.000.000đ, nhưng khi tuyên án c p sơ thẩm đ tính toán không chính xác về số liệu, nên chỉ tuyên buộc bị đơn, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan hoàn trả 3.200.000.000đ, án phí dân sự sơ thẩm tương ứng là 96.000.000đ. Sau khi tuyên án, bản án chưa phát hành, c p sơ thẩm đ tính toán lại và điều chỉnh số liệu trong bản án, buộc bị đơn, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan phải trả cho nguyên đơn 3.300.000.000đ như yêu cầu cầu của nguyên đơn và buộc bị đơn, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng là 98.000.000đ. Đáng lẽ ra, sau khi đều chỉnh số liệu thì c p sơ thẩm phải có thông báo cho các đương sự biết về sự khác nhau giữa số liệu khi tuyên án và số liệu trong bản án phát hành. C p sơ thẩm có thiếu sót nhưng không phải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, vì không ảnh hưởng đến quyền l i của các đương sự và theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì khi phát hiện có sai sót về số liệu tính toán thì Tòa án có quyền thông báo sửa chữa, bổ sung bản án. Mặt khác, khi nhận đư c bản án, các đương sự cũng không có ý kiến gì về v n đề này. Do vậy đây không phải là căn cứ để hủy án như đề nghị của đại diện bị đơn.
Đối với số tiền cho vay trả góp: Trong đơn khởi kiện bổ sung tại c p sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền là 390.000.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn trình bày cụ thể hơn về số tiền này. Trong 390.000.000đ nêu trên có khoản vay ngày 7/7 Al là 80.000.000đ và ngày 16/7 Al là 50.000.000đ (tổng cộng là 130.000.000đ) là cho bị đơn vay để đáo hạn ngân hàng, số tiền vay trả góp là 260.000.000đ. Nguyên đơn ch p nhận bị đơn đ trả khoản này là 195.000.000đ, số tiền còn lại là 65.000.000đ bị đơn chưa trả. Bị đơn cũng thừa nhận khoản vay trả góp chưa trả là 65.000.000đ. Như vậy đối với khoản vay trả góp cả nguyên đơn và bị đơn đều trình bày thống nh t là bị đơn còn n nguyên đơn 65.000.000đ
Về yêu cầu của nguyên đơn đối với khoản cho bị đơn vay để đáo hạn ngân hàng. Tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả là 3.105.000.000đ + 130.000.000đ (chuyển từ khoản vay trả góp nêu trên) = 3.235.000.000đ.
Chứng cứ nguyên đơn cung c p là các gi y viết tay, các tờ gi y này nằm trong sổ n của nguyên đơn, phần trên c ng của tờ gi y (tiêu đề) ghi “H +T”, các dòng phía dưới ghi ngày tháng và số tiền. Nguyên đơn và bị đơn đều trình bày thống nh t các nội dung ghi trên gi y tờ mà nguyên đơn cung c p do chính tay bị đơn (bà H) viết, chữ “H + T” ở hàng tiêu đề đúng là tên của v chồng bị đơn. Nguyên đơn cho rằng dòng trên c ng ghi “H + T” có nghĩa là người vay tiền là bà H, ông T, trong sổ n của nguyên đơn ghi nhiều người n nên phải ghi dòng trên c ng là người n , các dòng phía dưới ghi ngày tháng và số tiền là ngày tháng nguyên đơn giao tiền cho bị đơn và số tiền là số n . Khi bị đơn trả khoản tiền nào thì bị đơn d ng viết gạch ngang dòng ghi ngày tháng năm và số tiền. Bị đơn cho rằng các nội dung ghi trong gi y tờ nguyên đơn cung c p không phải là khoản vay của bị đơn đối với nguyên đơn. Tại c p sơ thẩm, bị đơn cho rằng m i lần bà Đ cho người khác vay tiền có rủ bà H đi cùng, bà H chỉ là người ghi gi m bà Đ vào sổ n của bà Đ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H thay đổi lời khai, bà cho rằng những tờ gi y mà nguyên đơn cung c p mà dòng trên c ng có ghi “H +T”, các dòng phía dưới có ghi ngày tháng và số tiền, thì số tiền này bà H đưa cho bà Đ để bà Đ cho người khác vay, sau đó bà H và bà Đ chia nhau tiền l i còn đối với những tờ gi y mà nguyên đơn giao nộp không có tiêu đề “H + T” thì bà khai thống nh t như ở c p sơ thẩm, bà là người ghi gi m bà Đ khi bà Đ cho người khác vay tiền.
Lời khai của bà H ở c p phúc thẩm mâu thuẫn với chính lời khai của bà tại c p sơ thẩm. Lời khai của bà H không đư c nguyên đơn thừa nhận và không ph h p với các tình tiết của vụ án. Thứ nh t, lời khai tại c p sơ thẩm: Bà H không thể lý giải đư c tại sao bà phải ghi gi m bà Đ trong khi bà Đ thông thạo đọc, viết. Nếu bà không phải là người vay tiền của bà Đ mà chỉ ghi gi m bà Đ khi bà Đ cho người khác vay thì tại sao bà lại ghi tên của v chồng bà vào sổ n của bà Đ, nếu bà ghi gi m thì tại sao bà không ghi thông tin người vay tiền của bà Đ là ai, mà thông tin về người vay lại là nội dung quan trọng nh t cần phải có trong b t cứ h p đồng vay hay hình thức nhận n nào, nếu không có thông tin về người vay thì ghi gi m để làm gì; tại phiên tòa bà H cũng không trình bày đư c nếu bà ghi gi m bà Đ thì người vay tiền là ai, hiện ở đâu. Thứ hai, lời khai tại c p phúc thẩm: Bà H thay đổi lời khai như trên nhưng bà không trình bày đư c là bà đ đưa cho bà Đ bao nhiêu tiền, trong bao nhiêu lần.
Trong các gi y tờ mà nguyên đơn cung c p không ghi rõ ràng, chi tiết về bên vay và bên cho vay. Điều 404. Bộ luật dân sự quy định về giải thích h p đồng:
1. Khi h p đ ng có đi u kho n không rõ ràng thì vi c gi i thích đi u kho n đó không chỉ dựa vào ngôn từ của h p đ ng mà còn ph i căn cứ vào ý chí của các bên đ c thể hi n trong toàn bộ quá trình tr ớc, t i th i điểm xác lập, thực hi n h p đ ng.
4. Các đi u kho n trong h p đ ng ph i đ c gi i thích trong mối liên h với nhau, sao cho ý nghĩa của các đi u kho n đó phù h p với toàn bộ nội dung h p đ ng.
Căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn cung c p, kết h p với các chứng cứ khác là lời khai của người vay tiền của bà Đ là bà Trần Thị Mỹ D, bà han Thị Đ đều thừa nhận hình thức vay tiền như bà Đ trình bày cũng như sự thừa nhận của bị đơn về cách thức ghi số tiền cho vay và căn cứ vào quy định của Bộ luật dân sự về việc giải thích h p đồng, có đủ căn cứ kết luận: Người cho vay là bà Đ (mặc d trong gi y tờ không ghi người cho vay là bà Đ, nhưng bà Đ là người giữ gi y tờ cho vay do chính bà H viết); người vay là bà H (trong gi y tờ do nguyên đơn cung c p không ghi rõ bên vay tiền là bà H nhưng bà H đ ghi tên của v chồng bà ở hàng trên c ng trong sổ của bà Đ), số tiền vay là số tiền ghi trong gi y tờ bà Đ cung c p (có một số khoản vay không ghi chi tiết số tiền nhưng bà H khai thống nh t chữ “tr” sau các chữ số nghĩa là triệu đồng, hoặc sau các chữ số không có ghi chữ “tr” cũng có nghĩa là đơn vị tính là triệu đồng). Như vậy, giữa bà Đ và bà H đ giao kết với nhau h p đồng vay tài sản.
Hình thức giao nhận tiền: Nguyên đơn cho rằng khi cho vay thì nguyên đơn đưa tiền cho bên vay, bên vay viết vào sổ n của nguyên đơn số tiền đ đư c nhận. Mặc d bị đơn không thừa nhận có vay tiền của nguyên đơn nhưng lại thừa nhận cách thức cho vay và ghi số tiền vay như nguyên đơn trình bày, lời khai của nguyên đơn và bị đơn thống nh t với lời khai của một số người vay tiền của bà Đ như là bà Trần Thị Mỹ D, bà han Thị Đ, thống nh t với chứng cứ nguyên đơn cung c p là gi y tờ do bà H viết thể hiện bà đ nhiều lần vay tiền của bà Đ (44lần), việc vay - trả xen kẽ lẫn nhau và diễn ra trong thời gian dài. Do vậy gi y tờ nguyên đơn cung c p (do bị đơn ghi) vừa có giá trị chứng minh hai bên đ giao kết h p đồng vay tài sản, đồng thời có giá trị là sự thừa nhận n (gi y nhận n ) của người vay nên không cần buộc nguyên đơn cung c p gi y biên nhận giao nhận tiền giữa hai bên. Do vậy, có đủ căn cứ kh ng định bà Đ đ cho bà H vay số tiền 3.235.000.000đ. Đến nay, bị đơn chưa trả cho nguyên đơn số tiền này.
. Về nghĩa vụ liên đới trả n : Mặc d v chồng bà H, ông T không thừa nhận đ vay của bà Đ số tiền 3.235.000.000đ, nhưng v chồng bà H thừa nhận trước đây đ nhiều lần bà H vay tiền của Hương ông T có biết và có tham gia trả n cho bà Đ. Bà H vay tiền của bà Đ không phải để chi tiêu cá nhân mà để phát triển kinh tế gia đình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 27, khoản 1 Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình thì ông T có trách nhiệm liên đới c ng bà H trả n cho bà Đ.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét th y Tòa án c p sơ thẩm ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, không có căn cứ để ch p nhận kháng cáo của bị đơn bà Châu Thị Mỹ H, người có quyền, l i nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T. C p phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 18/2019/DS-ST ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
. Do đơn kháng cáo của bị đơn bà Châu Thị Mỹ H và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T không đư c ch p nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì những lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
Không ch p nhận kháng cáo của bị đơn bà Châu Thị Mỹ H và của người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2019/DS-ST ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
Áp dụng: Các Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 469 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 27, 30 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Ch p nhận yêu cầu của bà Đoàn Thị Đ. Buộc v chồng ông bà Châu Thị Mỹ H, ông Nguyễn Anh T phải trả cho bà Đoàn Thị Đ số tiền là 3.300.000.000đ (ba tỷ ba trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người đư c thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i su t quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường h p pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí:
- Bà Châu Thị Mỹ H, ông Nguyễn Anh T phải chịu 98.00.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Đoàn Thị Đ 47.748.600 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đ nộp theo biên lai thu số 0024682 ngày 05/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T và 9.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí đ nộp theo biên lai thu số 0024702 ngày 20/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T.
- Bà Châu Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng đư c trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đ nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0028967 ngày 23/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Bà Châu Thị Mỹ H đ nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Ông Nguyễn Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng đư c trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đ nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0028966 ngày 23/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Ông Nguyễn Anh T đ nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Trường h p bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Toà án nhân dân huyện Hàm Tân; - Chi cục THADS huyện Hàm Tân; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, Tổ HCT . . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quản |