vanban.org

Bản án 116/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 04/10/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại ông Đỗ Văn T2 và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Hà Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Giao bị cáo Hà Văn T1 cho UBND phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 85/2018/HS-ST Tuyên án 12/07/2018
Phúc thẩm Bản án 133/2017/HS-PT Tuyên án 20/12/2017
Phúc thẩm — đang xem Bản án 116/2018/HS-PT Tuyên án 04/10/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HÀ VĂN THẤU - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại ông Đỗ Văn T2 và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2018/HS-PT
Ngày: 04-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Dung.

Các thẩm phán: Ông Thân Quốc Hùng.

Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Khôi- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Lâm Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 04/10/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 152/TLPT-HS ngày 20 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo Hà Văn T1 do có kháng cáo của bị hại ông Đỗ Văn T2 và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị M đối với bản án hình sự sơ thẩm số 85/2018/HSST ngày 12/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Họ và tên: Hà Văn T1, sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: tổ Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Hà Văn T3, sinh năm 1959; Con bà: Hà Thị V, sinh năm 1960; Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1985; Bị cáo có hai con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt).

- Người bị hại có kháng cáo: Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1963 (Có mặt)

Địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có kháng cáo:Bà Hà Thị M, sinh năm 1966 (Có mặt)

Địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo: Anh Đỗ Văn T4, sinh năm 1992 (Vắng mặt)

Địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đỗ Văn T2 và bà Hà Thị M: Ông Trần Công T5 - luật sư thuộc Văn phòng luật sư V, Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang (Có mặt).

- Người làm chứng:

1. Ông Hà Văn T3, sinh năm 1959 (Có mặt)

Địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

2. Anh Hà Văn B, sinh năm 1981 (Vắng mặt)

Địa chỉ: tổ dân phố T, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Văn T1 sinh năm 1988 trú tại số nhà 138, ngõ 29, tổ dân phố Đ, phường X, thành phố B là hàng xóm với ông Đỗ Văn T2 sinh năm 1963 trú tại số nhà 136, ngõ 29, tổ dân phố Đ, phường X, thành phố B.

Khoảng 21 giờ ngày 03/3/2017, T1 đang ở nhà thì nghe thấy có tiếng ném gạch, ngói ở phía cổng nhà mình nên đi ra thì nhìn thấy ông T2 đang đứng trước cổng nhà số 136 cầm 01 viên gạch vỡ ném về phía cổng nhà T1. Do trước đó giữa hai gia đình đã có mâu thuẫn nên T1 cho rằng ông T2 cố tình dùng gạch, ngói ném vào nhà mình nên nói “Thằng kia ai trêu ghẹo gì mày mà đêm hôm mày lại ném gạch ngói vào nhà tao” thì ông T2 chửi “Đ.M thằng thầy cúng”. Nghe thấy vậy, T1 xông đến dùng tay túm kéo ông T2, hai bên giằng co nhau. Ông T2 gọi vợ là bà Hà Thị M ra để hỗ trợ. Bà M từ trong nhà chạy ra túm vào người T1 để can ngăn. Lúc này, T1 dùng tay trái túm tay ông T2, tay phải hất mạnh làm bà M bị ngã xuống đường bê tông bị thương chảy máu. Ngay sau đó, T1 dùng tay phải đấm một cái vào mặt ông T2 và hất ông T2 ngã xuống đường làm ông T2 bị thương chảy máu. Thấy có đánh nhau, anh Hà Văn B sinh năm 1981 trú tại tổ dân phố T, phường X, thành phố B (Anh B là anh rể của T1) đi đến can ngăn và kéo T1 về nhà. Sau khi bị ngã, bà M chạy theo đến trước cổng nhà T1 có lời nói chửi bới T1 thì ông Hà Văn T3 là bố đẻ T1 đứng phía trong cổng có nói “Thôi, thôi đi”. Sau đó, ông T2 và bà M được người dân xung quanh đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang cấp cứu, điều trị.

Ngày 23/4/2017, ông T2, bà M có đơn đề nghị khởi tố đối với Hà Văn T1 về hành vi gây thương tích.

Ông Đỗ Văn T2 được cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang từ ngày 03/3/2017 đến ngày 10/3/2017 thì ra viện. Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 23/3/2017, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang xác nhận tình trạng thương tích của ông Đỗ Văn T2 khi vào viện như sau: Đau đầu; sống mũi sưng nề, lệch sang bên phải, gãy xương chính mũi; mắt trái bầm tím da mi, kết mạc xung huyết. CT-Scanner: Vỡ thành trước trái mũi.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 7690/17/TgT ngày 30/3/2017, Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận về thương tích của ông Đỗ Văn T2 như sau: Thương tích kiểm tra vùng đầu không thấy dấu vết thương tích: 0%; Thương tích chạm thương mắt trái không còn dấu vết: 0%; Thương tích chạm xương sống mũi không còn dấu vết + X.quang: Hình ảnh gãy xương chính mũi, sau điều trị hiện có vị trí giải phẫu bình thường + Khám chuyên khoa tai – mũi – họng: Gãy xương chính mũi/ Vẹo vách ngăn mũi trái gây ngạt mũi và giảm ngửi mũi trái: 26%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 26%.

Bà Hà Thị M được cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang từ ngày 03/3/2017 đến 04/3/2017 thì ra viện. Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 17/3/2017, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang xác nhận tình trạng thương tích của bà Hà Thị M khi vào viện như sau: Đau đầu; vết thương vùng trán trái, kích thước 02cm; xây sát gối phải; CT- Scanner: Hiện không thấy tổn thương do chấn thương trên phim.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 7689/17/TgT ngày 30/3/2017, Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận thương tích của bà Hà Thị M như sau: Thương tích vết sẹo vùng trán trái + điện não đồ: Hoạt động bình thường: 2%; Thương tích vết sẹo nông gối phải: 1%. Tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 3%.

Quá trình điều tra, ông T2 trình bày: Khi xảy ra xô sát giữa ông T2 và Hà Văn T1 thì anh Hà Văn B có mặt tại hiện trường, anh B có dùng tay không đấm vào đầu, vai phải ông T2 và dùng chân đá vào mông ông T2; ông Hà Văn T3 có hành động dùng tay đấm vào vai của ông T2; ngoài việc dùng tay đấm vào mặt thì Hà Văn T1 còn dùng gối thúc vào mặt ông T2. Tại Cơ quan điều tra, ông T3, anh B không thừa nhận đánh ông T2, Hà Văn T1 không thừa nhận dùng gối thúc vào mặt ông T2. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa ông T2 với anh B, ông T3 và Hà Văn T1 nhưng các bên đối chất đều giữ nguyên lời khai. Do không có căn cứ chứng minh ông T3 và anh B có hành vi đánh ông T2 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, truy tố, ông T2, bà M yêu cầu Hà Văn T1 bồi thường dân sự. Về mức tiền yêu cầu bồi thường, ông T2, bà M và Hà Văn T1 không thỏa thuận được. Ngày 27/7/2017, Hà Văn T1 tự nguyện nộp số tiền 30.000.000 đồng vào Chi cục thi hành án dân sự thành phố B để khắc phục hậu quả.

Đối với hành vi của Hà Văn T1 gây thương tích đối với bà Hà Thị M làm bà M tổn hại 03% sức khỏe, hành vi này không cấu thành tội phạm. Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã có văn bản yêu cầu Công an thành phố B xử lý hành chính. Ngày 08/8/2017, Trưởng Công an thành phố B đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Hà Văn T1 về hành vi này.

Ngày 04/7/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B kết luận điều tra vụ án. Ngày 03/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B quyết định truy tố đối với Hà Văn T1. Tại bản án số 132/2017/HSST ngày 27/9/2017, Tòa án nhân dân thành phố B đã xử phạt Hà Văn T1 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 24 tháng và buộc bồi thường dân sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Đỗ Văn T2 và bà Hà Thị M đã kháng cáo bản án sơ thẩm. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 133/2017/HSPT ngày 20/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 132/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố B đã xét xử đối với bị cáo Hà Văn T1 để điều tra lại. Ngày 10/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã trả hồ sơ vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra

Quá trình điều tra lại, bà Hà Thị M yêu cầu giám định lại thương tích. Ngày 11/4/2018, Cơ quan điều tra trưng cầu giám định lại thương tích của bà M. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 117 ngày 07/5/2018, Viện Pháp y quốc gia kết luận: Thương tích vết sẹo vùng trán không ảnh hưởng thẩm mỹ 2%; Chấn động não đã điều trị ổn định; Vết sây sát da đầu gối không để lại dấu tích nên không xếp tỷ lệ. Thương tích do vật tày tác động gây ra.

Đối với hành vi của Hà Văn T1 cố ý gây thương tích cho bà M, Công an thành phố B giữ nguyên quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hà Văn T1 ngày 08/8/2017.

Đến nay, Hà Văn T1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 23/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố Hà Văn T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 104 - Bộ luật Hình sự 1999.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 85/2018/HS-ST ngày 12/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

Tuyên bố: bị cáo Hà Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2, Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 - Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn T1 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hà Văn T1 cho UBND phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 23/7/2018 bị hại là ông Đỗ Văn T2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị M có đơn kháng cáo với cùng nội dung: kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy án sơ thẩm để trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố B để điều tra bổ sung, xét xử sơ thẩm lại.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Bị hại là ông Đỗ Văn T2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như trên với lý do: bản án sơ thẩm xử không khách quan, vi phạm tố tụng, bỏ sót hành vi phạm tội, bỏ lọt tội phạm, không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tôi.

* Bị hại là ông Đỗ Văn T2 trình bày: Tối ngày 03/3/2017, ông có đi dự một đám cưới trong thôn và có sử dụng rượu. Khi ông về nhà được một lúc thì xảy ra xô xát với Hà Văn T1. Ông khẳng định ngày 03/3/2017, Hà Văn T1 ngoài hành vi dùng tay đấm vào mặt ông nhiều lần còn có hành vi dùng đầu gối phải thúc vào mặt ông và ghì đầu ông xuống mặt đường bê tông. Ông khẳng định T1 chỉ dùng tay, chân không để gây thương tích cho ông chứ không sử dụng hung khí nào khác. Ngày 03/3/2017, ông khẳng định ngoài T1 còn có anh rể của T1 là anh Hà Văn B có hành vi dùng tay không đấm vào đầu, vai phải và dùng chân đá vào mông ông; bố đẻ của T1 là ông Hà Văn T3 có hành vi dùng tay đấm vào vai của ông. Việc này chỉ có ông, T1, anh B và ông T3 biết. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo T1 phải bồi thường cho ông số tiền 8.290.000 đồng, trong đó:

+ Tiền viện phí, hóa đơn thuốc là: 1.480.000 đồng;

+ Tiền mua dụng cụ thủ thuật: 600.000 đồng;

+ Tiền xăng xe đi lại và gửi xe tại bệnh viện: 210.000 đồng;

+ Tiền mất thu nhập = một tháng lương theo thu nhập của ông: 3.000.000 đồng;

+ Tiền bồi dưỡng sức khỏe = một tháng lương theo thu nhập của ông: 3.000.000 đồng;

Ngoài ra ông yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho ông bằng 50 tháng lương cơ sở tính tại thời điểm xét xử sơ thẩm.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Hà Thị M trình bày: Khi bà từ trong nhà chạy ra, bà chỉ dùng tay kéo ông T2 ra và hỏi “Có chuyện gì?” thì bị T1 dùng hai tay túm tóc và dập đầu bà xuống đường bê tông. Bà khẳng định không có việc bà hay ông T2 bị T1 hất văng vào gốc cây ven đường. Bà không đồng ý việc cơ quan giám định Pháp y trung ương kết luận vết sẹo trên trán của bà là không ảnh hưởng đến thẩm mỹ và tỷ lệ thương tật của bà là 2%, bà vẫn còn một vết sẹo ở chân. Bà không đồng ý việc Tòa án xác định bà là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vì bà cũng bị Hà Văn T1 đánh gây thương tích và có đơn yêu cầu khởi tố nên bà phải là bị hại. Bà đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo T1 phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

* Bị cáo Hà Văn T1 một lần nữa khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã nêu là đúng và trình bày: Trước khi xảy ra sự việc tối ngày 03/3/2017 thì buổi sáng và trưa cùng ngày, ông Đỗ Văn T2 đã có hành vi chửi bới, xúc phạm bị cáo và gia đình; ông T2 còn có hành vi quét và hất rác từ tầng 2 nhà ông T2 sang nhà bị cáo; cộng với mâu thuẫn đã có giữa hai gia đình từ nhiều năm nên khi thấy ông T2 ném gạch, ngói vào nhà mình, bị cáo mới nóng giận và có hành vi xô xát với ông T2. Khi xảy ra xô xát với bị cáo, ông T2 đang trong tình trạng say rượu. Khi bà Hà Thị M từ trong nhà chạy ra đã có hành vi cào cấu vào tay phải của bị cáo để kéo bị cáo ra. Bị cáo nhận thức hành vi gây thương tích cho ông T2 và bà M ngày 03/3/2017 là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo xin lỗi ông T2 và bà M. Bị cáo đồng ý bồi thường cho ông T2, bà M theo như bản án sơ thẩm quyết định. Bị cáo không đồng ý bồi thường theo như yêu cầu của ông T2 bà M ở tại phiên tòa hôm nay.

* Người làm chứng là ông Hà Văn T3 trình bày: ông không có mặt chứng kiến sự việc xô sát giữa bị cáo và ông T2 bà M, việc ông T2 bà M trình bày ở tại phiên tòa hôm nay là không đúng. Ông khẳng định không có bất cứ hành vi nào khác đối với vợ chồng ông T2, bà M.

* Người làm chứng là anh Hà Văn B vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: Anh là anh rể của Hà Văn T1. Khoảng 21 giờ ngày 03/3/2017, anh đi xe máy sang nhà bố vợ là ông Hà Văn T3. Khi đến gần cổng nhà ông T3 thì anh nhìn thấy T1 và vợ chồng ông Đỗ Văn T2, bà Hà Thị M (hàng xóm liền kề nhà ông T3) đang túm kéo nhau ở đường ngõ. Khi đó T1 dùng tay hất ngã ông T2 và bà M ra đường. Thấy vậy anh cất xe máy vào trong sân nhà ông T3 rồi chạy ra đường để can ngăn. Khi anh ra đến nơi thì thấy bà M bị chảy máu ở trán còn ông T2 anh không rõ có thương tích gì không. Anh đã dùng tay túm vào người và lôi T1 về nhà. Sau đó bà M chạy theo và đứng ở cổng nhà ông T3 chửi bới. Anh có ra và nói với bà M “Thôi bà đi về”. Anh khẳng định không có bất cứ hành vi nào khác với vợ chồng ông T2, bà M.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Văn T2 và bà Hà Thị M. Giữ nguyên án sơ thẩm đối với bị cáo.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đỗ Văn T2 và bà Hà Thị M là luật sư Trần Công T5 phát biểu quan điểm:

- Không đồng ý áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả đối với bị cáo.

- Không đồng ý với mức bồi thường tổn thất tinh thần và yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho ông T2, bà M mỗi người bằng 50 tháng lương cơ sở tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.

- Đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung, lý do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng: Viên gạch là vật chứng của vụ án, nhưng không thu thập. Cơ quan điều tra không cho thực nghiệm điều tra để xác định thương tích của người bị hại. Bản án không phản ánh trung thực nội dung vụ án. Bút lục 94, 95 là biên bản ghi lời khai của bị cáo ngày 03/3/2017, tuy nhiên không ghi tư cách người tham gia tố tụng.

Ông Đỗ Văn T2 và bà Hà Thị M tranh luận: không đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát, giữ nguyên nội dung yêu cầu kháng cáo, đồng ý quan điểm của luật sư.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đối đáp với các ý kiến tranh luận của luật sư Trần Công T5:

Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách người làm chứng là ông T3 và anh B là đúng vì ông T3 mặc dù không chứng kiến sự việc xô sát, nhưng ông có ra can ngăn. Anh B có nhìn thấy bị cáo và vợ chồng ông T2 bà M đang túm kéo nhau ở đường ngõ, khi đó bị cáo dùng tay hất ngã ông T2 bà M ra đường. Thấy vậy anh B chạy ra đường để can ngăn.

Luật sư cho rằng bản án xuyên tạc sự thật là không có căn cứ: tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận việc gây thương tích cho ông T2 và bà M và chấp nhận bồi thường, giữa lời khai của bị cáo và bị hại có mâu thuẫn một số chỗ nhưng không ảnh hưởng tới nội dung vụ án, giữ nguyên quan điểm của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo Hà Văn T1: đồng ý với bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của người bị hại ông Đỗ Văn T2 và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị M nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.

Về việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ: Xét thấy họ đã có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do vậy, HĐXX quyết định tiếp tục xét xử theo quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đỗ Văn T2 và bà Hà Thị M là luật sư Trần Công T5 tại phiên tòa thì thấy:

- Ông T2, bà M và bị cáo đều khai bị cáo chỉ dùng tay, chân không gây thương tích cho ông T2, bà M nên viên gạch không phải là vật chứng của vụ án, không cần thiết phải thu hồi;

- Bị cáo thừa nhận hành vi gây thương tích cho ông T2, bà M; lời khai của bị cáo phù hợp với chứng nhận thương tích của ông T2, bà M; bị cáo trẻ, khỏe hoàn toàn có khả năng gây ra thương tích cho ông T2, bà M như bị cáo trình bày nên việc thực nghiệm điều tra là không cần thiết;

- Bút lục 94 và 95 là Biên bản ghi lời khai của bị cáo ngày 03/3/2017. Tuy nhiên, đến ngày 09/5/2017, Công an thành phố B mới có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can nên việc biên bản ghi lời khai ngày 03/3/2017 không ghi tư cách tham gia tố tụng là không vi phạm quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung của luật sư Trần Công T5 là phù hợp với quy định tại Điều 280 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa, căn cứ vào kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thấy đủ cơ sở xác định:

Khoảng 21 giờ ngày 03/3/2017, tại ngõ 29, tổ dân phố tổ Đ, phường X, thành phố B, Hà Văn T1 đã có hành vi dùng tay phải đấm 01 cái vào mặt ông Đỗ Văn T2 sinh năm 1963, trú tại số nhà 136, ngõ 29, tổ Đ, phường X, thành phố B làm ông T2 bị tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên là 26%. Ông Đỗ Văn T2 có đơn yêu cầu khởi tố đối với Hà Văn T1 và có yêu cầu bồi thường dân sự.

Trong vụ án này, Hà Văn T1 còn có hành vi gây thương tích cho bà Hà Thị M với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%; bà M có đơn yêu cầu khởi tố và yêu cầu bồi thường dân sự. Xét thấy: theo tinh thần hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội (có hiệu lực từ ngày 05/7/2017) về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự 2015 và Điều 134 - Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã xóa bỏ tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với một người hoặc phạm tội đối với nhiều người” thì việc Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt hành chính số 115/QĐ-XPHC ngày 08/8/2017 đối với hành vi này của Hà Văn T1 mà không áp dụng việc cộng tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với hành vi gây thương tích của Hà Văn T1 cho cả ông Đỗ Văn T2 và bà Hà Thị M để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 - Bộ luật hình sự 1999 và hướng dẫn tại điểm b.2 tiểu mục 3.2 mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/6/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 7 - Bộ luật hình sự 2015 thì hành vi của Hà Văn T1 gây thương tích 26% cho ông Đỗ Văn T2 ngày 03/3/2017 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 - Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo Hà Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2018/HS-ST ngày 12/7/ 2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng quy định pháp luật, không oan sai.

Xét kháng cáo của người bị hại ông Đỗ Văn T2 và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị M trong vụ án thì thấy: Hành vi của bị cáo Hà Văn T1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Người phạm tội bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự và đã hoàn thành tốt trở về địa phương; trong vụ án này lỗi một phần thuộc về bị hại.

Bản thân bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, chưa có tiền án tiền sự và do nhất thời nóng nảy, không kiểm soát được hành vi của mình. Mặt khác bị cáo lại có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Cấp sơ thẩm sau khi xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện, khách quan tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của bị cáo đã xử phạt bị cáo Hà Văn T1 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo là đảm bảo quy định của pháp luật, phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, không nhẹ.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại ông Đỗ Văn T2 và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị M kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại HĐXX thấy:

Đối với yêu cầu bồi thường của bị hại - ông Đỗ Văn T2:

- Đối với số tiền 8.290.000 đồng, trong đó:

+ Tiền viện phí, hóa đơn thuốc là: 1.480.000 đồng;

+ Tiền mua dụng cụ thủ thuật: 600.000 đồng;

+ Tiền xăng xe đi lại và gửi xe tại bệnh viện: 210.000 đồng;

+ Tiền mất thu nhập = một tháng lương theo thu nhập của ông: 3.000.000 đồng;

+ Tiền bồi dưỡng sức khỏe = một tháng lương theo thu nhập của ông: 3.000.000 đồng;

- Đối với số tiền bồi thường tổn thất tinh thần bằng 50 tháng lương cơ sở thì thấy: việc bị cáo gây thương tích cho ông bị giảm chức năng ngửi là 26% là đúng, nhưng yêu cầu bồi thường của ông là quá cao không phù hợp với tình hình thực tế. Do vậy cần buộc bị cáo bồi thường cho ông T2 12 tháng lương cơ sở do nhà nước quy định là 12 tháng x 1.390.000 đồng = 16.680.000 đồng là phù hợp.

Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho ông T2 là: 8.290.000 đồng + 16.680.000 đồng = 24.970.000 đồng là có căn cứ.

Đối với yêu cầu bồi thường của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - bà Hà Thị M:

- Đối với số tiền 4.653.000 đồng, trong đó:

+ Tiền thuốc có hóa đơn bệnh viện: 1.553.500 đồng;

+ Tiền bồi dưỡng sức khỏe: 1.000.000 đồng;

+ Tiền mua chỉ tự tiêu: 600.000 đồng;

+ Tiền mất thu nhập = 1/2 tháng lương của bà: 1.500.000 đồng.

Đây là những khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút; thu nhập thực tế bị giảm sút của bị hại nên cần chấp nhận.

- Đối với số tiền bồi thường tổn thất tinh thần bằng 50 tháng lương cơ sở thì thấy: sức khoẻ của bà M bị xâm phạm là có thật nhưng tỷ lệ thương tích không lớn (chỉ là 2%) nên việc bà yêu cầu bồi thường tiền tổn thất tinh thần với mức 50 tháng lương cơ sở là quá cao mà cần chấp nhận cho bà M mức bồi thường bằng 1 tháng lương cơ sở là 1.390.000 đồng là phù hợp.

Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đề nghị bị cáo phải bồi thường cho bà M tổng số tiền: 4.653.000 đồng + 1.390.000 đồng = 6.043.000 đồng là có căn cứ.

Đối với yêu cầu bồi thường của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Đỗ Văn T4 (anh T4 không có kháng cáo): Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo bồi thường cho anh T4 tiền mất thu nhập 4.200.000đ là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại ông Đỗ Văn T2 và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị M không đưa ra được căn cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Văn T2 và bà Hà Thị M cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo T1 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vấn đề khác:

- Tại phiên toà ông Đỗ Văn T2 trình bày việc ông bị đánh ngày 03/3/2017, ngoài Hà Văn T1 còn có anh Hà Văn B (anh rể T1) và ông Hà Văn T3 (bố đẻ T1) cùng tham gia đánh ông nhưng lời khai của bà Hà Thị M trong quá trình điều tra và những lời khai của người làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác cũng đều khẳng định không có việc ông T3 và anh B cùng tham gia đánh ông T2, do vậy cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa bà Hà Thị M có ý kiến không đồng ý với kết luận giám định pháp y về thương tích số 117 ngày 07/5/2018 của Viện Pháp y quốc gia về nội dung “Thương tích vết sẹo vùng trán không ảnh hưởng thẩm mỹ 2%”. Xét thấy tại bút lục số 305 thể hiện: ngày 09/5/2018, khi bà M được Điều tra viên Công an thành phố B thông báo và bản thân bà M được đọc kết luận giám định pháp y về thương tích số 117 ngày 07/5/2018 của Viện Pháp y quốc gia thì bà M trình bày là bà không có ý kiến gì về kết luận giám định này. Việc Cơ quan điều tra Công an thành phố B thực hiện việc thông báo và ghi lại ý kiến của bà M tại Biên bản làm việc ngày 09/5/2018 (bút lục 305) là hoàn toàn đúng quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 214 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015 nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết ý kiến đã nêu trên của bà M.

- Tại phiên tòa, bà Hà Thị M có ý kiến không đồng ý với việc Tòa án xác định bà là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà phải xác định bà là bị hại do Hà Văn T1 gây thương tích cho bà với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02% thì thấy: Hành vi gây thương tích 02% cho bà M của Hà Văn T1 đã bị Công an thành phố B xử lý bằng Quyết định xử phạt hành chính số 115/QĐ-XPHC ngày 08/8/2017 nên việc Tòa án xác định bà M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 65 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Án phí: ông Đỗ Văn T2 và bà Hà Thị M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[1] Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại ông Đỗ Văn T2 và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Hà Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 - Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt: Bị cáo Hà Văn T1 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hà Văn T1 cho UBND phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585 và 590 - Bộ luật dân sự 2015:

- Buộc bị cáo Hà Văn T1 phải bồi thường cho ông Đỗ Văn T2 số tiền 24.970.000 đồng.

- Buộc bị cáo Hà Văn T1 phải bồi thường cho bà Hà Thị M số tiền 6.043.000 đồng.

- Buộc bị cáo Hà Văn T1 phải bồi thường cho anh Đỗ Văn T4 số tiền 4.200.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường dân sự cho ông T2, bà M và anh T4 là: 24.970.000 đồng + 6.043.000 đồng + 4.200.000 đồng = 35.213.000 đồng.

Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền bồi thường thiệt hại 30.000.000 đồng theo biên lai thu số AA/2010/ 001241 ngày 21/8/2017 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố B.

Bị cáo còn phải nộp số tiền bồi thường thiệt hại là 5.213.000 đồng (Năm triệu hai trăm mười ba nghìn đồng chẵn).

Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu bên phải thi hành không thi hành thì hàng tháng còn phải trả cho bên được thi hành số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 - Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành số tiền còn phải trả.

[3] Án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:

Người bị hại ông Đỗ Văn T2 và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ