vanban.org

Bản án 116/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Võ Minh T.

Về quan hệ hôn nhân: cho anh Võ Minh T được ly hôn với chị Trần Thị V Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh T xin ly hôn chi V"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Võ Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H. GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:116/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 20/4/2018.
V/v “tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm;

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Nguyễn Văn Mạng

2- Ông Đỗ Công Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng– là Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 4 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 283/2017/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2017 về việc “tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2018/QĐXX - ST ngày 05 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Võ Minh T, sinh năm 1985;

Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.

2- Bị đơn: Trần Thị V, sinh năm 1984;

Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.

(Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt, chị V vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn anh Võ Minh T trình bày: anh và chị Trần Thị V kết hôn năm 2006 có đăng ký kết hôn tại xã B, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang. Sau khi cưới, vợ chồng sống tại thành phố Hồ Chí Minh đi làm Công nhân, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẩn, do kinh tế khó khăn, vợ thuê nhà trọ sống riêng, từ đó vợ chồng xa cách và không hàn gắn được tình cảm cho đến nay, anh xác định không còn tình cảm với vợ nên yêu cầu được ly hôn.

- Về con chung: anh, chị có 02 con chung tên Võ Thị Yến L, sinh ngày 24/5/2008, Võ Thị Bảo N, sinh ngày 29/10/2011, hiện chị V đang nuôi dưỡng. Ly hôn, anh yêu cầu nuôi cháu L, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu L.

- Về tài sản chung, nợ chung: anh xác định không có.

* Chị Trần Thị V đăng ký tạm trú tại ấp H, xã B, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị V không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc xin ly hôn của anh T, theo quy định pháp luật Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án.

* Ý kiến của Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo các văn bản tố tụng, cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: đề nghị áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Về hôn nhân, cho anh Võ Minh T được ly hôn với chị Trần Thị V; Về con chung, giao chị V tiếp tục nuôi 02 con chung tên Võ Thị Yến L, sinh ngày 24/5/2008, Võ Thị Bảo N, sinh ngày 29/10/2011, chị V chưa có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét; Về tài sản chung, nợ chung, không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn anh Võ Minh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn chị Trần Thị V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để dự phiên tòa, nhưng chị vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng. Do đó, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị V.

Quan hệ hôn nhân giữa anh T, chị V trên cơ sở tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 119, Quyển số 01/2006 ngày 14/12/2006 là hôn nhân hợp pháp. Nay anh T có yêu cầu ly hôn nên xem xét giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu ly hôn của anh T thấy rằng: anh, chị tự nguyện tiến tới hôn nhân và chung sống hạnh phúc khoảng thời gian 5 năm thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do khó khăn trong việc phát triển kinh tế gia đình, anh chị đi làm Công nhân tại thành phố Hồ Chí Minh thời gian đầu vợ chồng ở chung nhà trọ, từ năm 2011 thì thuê nhà trọ sống riêng, từ đó dẫn đến tình cảm phai nhạt dần, cho đến nay anh, chị không gặp mặt để trao đổi hàn gắn tình cảm. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và có đơn xin Tòa án xét xử vắng mặt. Đối với chị V, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị không đến tòa để trình bày ý kiến, chứng tỏ chị không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình. Xét thấy, mâu thuẩn của anh, chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh T được ly hôn với chị V là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: anh, chị có 02 con chung tên Võ Thị Yến L, sinh ngày 24/5/2008, Võ Thị Bảo N, sinh ngày 29/10/2011. Hiện chị V đang nuôi dưỡng hai cháu, anh T đề nghị nuôi cháu L. Xét thấy, hiện nay hai cháu đang sống với chị V đã ổn định trong việc sinh hoạt cũng như việc học tập, đồng thời theo nguyện vọng cháu L muốn sống chung với chị V nên Hội đồng xét xử giao 02 cháu cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng. Do chị V chưa có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử chưa xem xét đến.

Về tài sản chung, nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: anh T là nguyên đơn trong vụ án xin ly hôn nên phải nộp án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Qua ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang về quan điểm giải quyết vụ án có căn cứ, phù hợp với quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Võ Minh T.

1. Về quan hệ hôn nhân: cho anh Võ Minh T được ly hôn với chị Trần Thị V

2. Về nuôi con chung:

- Giao cho chị Trần Thị V được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Võ Thị Yến L, sinh ngày 24/5/2008 và Võ Thị Bảo N, sinh ngày 29/10/2011. Chị V chưa có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử chưa xem xét.

- Người không trực tiếp nuôi con chung được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Người trực tiếp nuôi con chung và các thành viên trong gia đình không được cản trở Người không trực tiếp nuôi con chung đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: không có.

4. Về án phí: anh Võ Minh T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 45183 ngày 15/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông. Như vậy anh T đã nộp đủ án phí.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sư; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Anh Võ Minh T và chị Trần Thị V có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ