vanban.org

Bản án 1154/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Ông Ngô Thế V được ly hôn với bà Lê Nguyễn Hoàng N.

Về con chung: Giao trẻ Ngô Lê Đông Đ, sinh ngày 19/7/2006 cho bà Lê Nguyễn Hoàng N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông V không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Ông Ngô Thế V được ly hôn với bà Lê Nguyễn Hoàng N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1154/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 22/6/2018
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

2. Bà Nguyễn Thị Bính Thân

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Tường Phúc – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 22/6/2017 tại phòng xử án - Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 1862/2017/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2018/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Ngô Thế V.

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Bà Lê Nguyễn Hoàng N

Địa chỉ: đường X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07/9/2017, tại Bản tự khai và các biên bản hoà giải, nguyên đơn là ông Ngô Thế V trình bày:

Ông và bà Lê Nguyễn Hoàng N tự nguyện yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 09/8/2006 tại Ủy ban nhân dân Phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh theo bản sao Trích lục kết hôn số 425/TLKH-BS ngày 06/9/2017.

Quá trình sống chung vợ chồng hạnh phúc trong 03 năm đầu. Từ năm 2010 không còn hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn xảy ra. Nguyên nhân do hai bên không tìm hiểu kỹ về nhau trước khi đi đến hôn nhân nên bất đồng quan điểm sống, vợ chồng hay cãi nhau, không thể hàn gắn. Hiện nay ông và bà N không còn sống chung với nhau, đã ly thân từ năm 2010 đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà N.

Về con chung: Có 01 con chung là Ngô Lê Đông Đ, sinh ngày 19/7/2006. Ông V có nguyện vọng là giao con chung cho bà N nuôi dưỡng và không cấp dưỡng phí tổn nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Bị đơn bà Lê Nguyễn Hoàng N:

Toà án nhân dân quận Bình Thạnh đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luậ cho bà N. Bà N đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh tiến hành giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn đề ngày 12/12/2017 xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với bà N.

Bị đơn vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đối với bị đơn để tham gia phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu: Được thể hiện đầy đủ trong bài phát biểu số 127/PB-VKS-HNGĐ ngày 22/6/2018.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ giữa ông Ngô Thế V và bà Lê Nguyễn Hoàng N là quan hệ hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, do bà N đang cư trú tại quận Bình Thạnh nên căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

2. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã thực hiện thủ tục triệu tập xét xử hợp lệ đối với bị đơn hai lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ kiện vắng mặt bị đơn.

3. Về yêu cầu của các đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ bản sao Trích lục kết hôn số 425/TLKH-BS ngày 06/9/2017 của Ủy ban nhân dân Phường Y, quận Z thể hiện hôn nhân giữa ông V và bà N là hợp pháp.

Nay nguyện vọng của ông V muốn ly hôn với bà N vì lý do tính cách không phù hợp, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông và bà N đã sống ly thân từ năm 2010 đến nay và không thể hàn gắn lại hạnh phúc gia đình.

Hội đồng xét xử xét:

Hôn nhân là việc nam nữ tự nguyện thương yêu và xây dựng hạnh phúc gia đình, trong đó cả hai cùng chung tay vun đắp cho hạnh phúc chung, tin tưởng và cùng nhau vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên, quá trình chung sống giữa ông V và bà N trong thời gian đầu hạnh phúc, sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do giữa hai người bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, tính cách không phù hợp, nên dẫn đến thường xuyên cãi vã và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2010 đến nay và không thể hàn gắn được, hiện nay ông V không còn tình cảm với bà N. Vì vậy, nguyện vọng của ông V xin được ly hôn với bà N là có cơ sở nên được chấp nhận.

Về con chung:

Căn cứ vào Trích lục khai sinh số 437/TLKS-BS do Ủy ban nhân dân Phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/9/2017 đã có đủ cơ sở thể hiện giữa ông V và bà N có 01 con chung là Ngô Lê Đông Đ, sinh ngày 19/7/2006.

Ông V có nguyện vọng giao trẻ Ngô Lê Đông Đ cho bà N nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét:

Trong suốt quá trình 02 vợ chồng ly thân từ năm 2010 cho đến nay thì bà N đang trực tiếp nuôi trẻ Đ, cháu vẫn phát triển tâm sinh lý bình thường, ổn định, sức khỏe tốt. Đồng thời, trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ và tại phiên tòa hôm nay ông V có nguyện vọng giao con cho bà N nuôi dưỡng và không cấp dưỡng phí tổn nuôi con. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn và không trái pháp luật nên được ghi nhận.

Về tài sản chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí DSST: 300.000 đồng, ông V phải đóng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1.Về quan hệ vợ chồng: Ông Ngô Thế V được ly hôn với bà Lê Nguyễn Hoàng N.

2.Về con chung: Giao trẻ Ngô Lê Đông Đ, sinh ngày 19/7/2006 cho bà Lê Nguyễn Hoàng N trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông V không cấp dưỡng nuôi con.

Ông V được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con. Vì quyền lợi của con khi cần thiết đôi bên được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc tiền cấp dưỡng nuôi con.

3.Về tài sản chung: Không có.

4. Về án phí DSST: là 300.000 đồng ông V phải đóng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông V đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0002936 ngày 19/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Ông V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ