vanban.org

Bản án 1153/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ L được ly hôn với ông Nguyễn Tấn Đ. Giấy chứng nhận kết hôn số 156, quyển 01/2010, ngày 07/10/2010 của Ủy ban nhân dân xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Đ, bà L không c n giá trị pháp lý. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Mỹ L ly hôn Nguyễn Tấn Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ L.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1153/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-8-2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, TH NH PH H CH MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Xuân Lan

Các Hội thẩm nhân dân: 1/Ông Huỳnh Văn Bé

2/ Ông Thái Văn Sơn

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký T a án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở T a án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 649/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 371A/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21/7/2023 và Quyết định hoãn phiên t a số: 286/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10/8/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Mỹ L, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số 80/1, đường 658, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số 75, đường 363, tổ 07, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn nội dung xin ly hôn ngày 09/5/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Thị Mỹ L trình bày: Bà với ông Nguyễn Tấn Đ tìm hiểu quen nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 156/CNKH, ngày 07/10/2010. Sau kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 01 thời gian, sau đó sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng ông bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gỗ, cả hai không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng và phát triển kinh tế vợ chồng. Bà đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và đã ly thân từ nhiều năm nay, không c n quan hệ vợ chồng, mỗi người đã có cuộc sống riêng.

Hiện vợ chồng bà không c n tình cảm yêu thương, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thành D, sinh ngày 24/7/2011 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 03/4/2015. Hai con chung hiện đang sống cùng với bà, bà yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà xác định không có.

Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Đơn khởi kiện, bản tự khai; Bản sao trích lục Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; 02 Bản sao khai sinh con chung; Căn cước công dân (photo) của nguyên đơn; Thông báo số định danh và thông tin công dân của bị đơn.

Ông Nguyễn Tấn Đ đã được Tòa án tống đạt: Thông báo thụ lý; Thông báo mở phiên họp về việc tiếp cận công khai chứng cứ và h a giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập đến tham dự phiên t a xét xử đến lần thứ hai mà ông Đ vắng mặt. Do đó, T a quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án nhân dân huyện Củ Chi.

Ông Nguyễn Tấn Đ đã được T a án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, T a án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ.

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ L với ông Nguyễn Tấn Đ tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 156, quyển 01/2010, ngày 07/10/2010 nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của bà L xin ly hôn với ông Đ là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ: Theo lời trình bày của bà L thì mâu thuẩn giữa bà với ông Đ là trầm trọng và không thể hàn gắn. Nguyên nhân là do vợ chồng bà bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gỗ, cả hai không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng và phát triển kinh tế gia đình. Bà và ông Đ đã ly thân hơn 08 năm nay, bà đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống và không c n quan hệ vợ chồng, mỗi người đã có cuộc sống riêng.

Ông Đ đã được T a án triệu tập nhiều lần nhưng không đến và c ng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến hay bất cứ tài liệu, chứng cứ chứng minh có liên quan đến vụ kiện. Do vậy, T a án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ là có căn cứ theo các tài liệu chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp và chứng cứ mà T a thu thập được theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.

Vì vậy, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà L với ông Đ không c n, tình trạng hôn nhân mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung của hai gười không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thành D, sinh ngày 24/7/2011 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 03/4/2015. Hai trẻ hiện đang sống cùng với bà L, quá trình giải quyết vụ án, 02 trẻ c ng có nguyện vọng được tiếp tục sinh sống cùng với mẹ. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của 02 trẻ, xét thấy cần giao 02 trẻ cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp; ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có, Tòa án không xem xét.

Nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không có, Tòa án không xem xét.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ BTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; cần buộc bà L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/ BTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ L được ly hôn với ông Nguyễn Tấn Đ. Giấy chứng nhận kết hôn số 156, quyển 01/2010, ngày 07/10/2010 của Ủy ban nhân dân xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Đ, bà L không c n giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thành D, sinh ngày 24/7/2011 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 03/4/2015. Bà L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi, do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì các bên có quyền yêu cầu T a án giải quyết b ng vụ án khác.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con chung có quyền yêu cầu T a án hạn chế quyền thăm nom con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, T a án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có, Toà án không xem xét.

4. Nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không có, Tòa án không xem xét.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) buộc bà Phạm Thị Mỹ L phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0017532 ngày 30/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phồ Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ án phí phí dân sự dân sự sơ thẩm.

6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày T a tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên T a có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nh n:

Cỡ chữ