- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP V - BÙI THỊ T"
- Tòa quyết gì? Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1152/2026/DS-ST Ngày: 16/9/2026 “V/v:Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Phương. Hội thẩm nhân dân: - Bà Tạ Thị Thà.
- Bà Trần Thị Kim Dung.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Sơn – Thư ký Tòa án. Đại diện VKSND khu vực 3 tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 735/TLST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1606/QĐXX ngày 07 tháng 8 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 1755 ngày 28/8/2026; về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa: * Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V. Địa chỉ: Số H L, phường Đ, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch HĐQT. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ – Trưởng phòng XLN. Người được ủy quyền lại: Ông Lý Viết T, ông Bùi Xuân P– Chuyên viên xử lý nợ (theo giấy ủy quyền số 29 ngày 01/6/2026. Có mặt. * Bị đơn: Bà Bùi Thị T1, sinh năm 1987. Vắng mặt. Địa chỉ: Căn hộ C, tòa Nhà T, phường H, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản tố tụng khác cũng như tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (V1) trình bày:
Ngày 09/2/2023, bà T1 có ký với ngân hàng TMCP V (sau đây gọi tắt là V1) Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cung cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng dịch vụ ngân hàng Đ1, V1 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng loại V1 với hạn mức 50,000,000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 39,48%/ năm và ngày 09/12/2024, bà T1 có ký với Ngân hàng Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ2 (định dạng hồ sơ số LN2412044476971), số tiền vay 150,000,000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất cho vay 21,1%/ năm và ngày 23/12/2024 Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ3 (định dạng hồ sơ số LN2412094518892), số tiền vay 50,000,000 đồng thời hạn vay 60 tháng, lãi suất vay 22,5%/năm.
Trong quá trình sử dụng thẻ bà T1 đã trả số tiền là 1.219.335.150 đồng trên tổng số tiền đã chi tiêu là 1.268.822.712 đồng. Đến ngày 27/5/2025 bà T1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V1 và V1 đã chuyển sang nợ quá hạn, tạm tính đến ngày 16/9/2026 là: 49.487.564 đồng, nợ lãi quá hạn là: 33.336.057 đồng, phí là: 1.175.488 đồng. Tổng nợ là 84.029.107 đồng.
Hợp đồng số LD2434402110 bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngày 15/7/2025, ngân hàng chuyển quá hạn ngày 15/7/2025 bà T1 đã thanh toán được nợ gốc là 6.846.130 đồng và tiền lãi là 22.273.537 đồng. Tạm tính đến ngày 16/9/2026 bà T1 còn nợ gốc là 143.153.537 đồng, lãi trong hạn 3.601.087 đồng, lãi quá hạn 78.634.421 đồng, tổng nợ là 225.389.378 đồng.
Hợp đồng số LD2435802540 vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngày 15/7/2025, ngân hàng chuyển quá hạn ngày 15/7/2025 bà T1 đã thanh toán được nợ gốc là 2.614.263 đồng và tiền lãi là 7.277.815 đồng. Tạm tính đến ngày 16/9/2026 bà T1 còn nợ gốc 47.385.737 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.218.945 đồng; lãi quá hạn là 26.996.443 đồng. Tổng nợ là 75.601.125 đồng.
Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết những yêu cầu sau:
- Buộc bà Bùi Thị T1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/9/2026 theo các hợp đồng là: Nợ gốc: 240.027.169 đồng; Nợ lãi và phí 144.992.441 đồng. Tổng cộng: 385.019.610 đồng.
- Bà Bùi Thị T1 có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng mà bà Bùi Thị T1 đã ký kết vay vốn tại V1.
- Yêu cầu Tòa án tiếp tục tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ, hợp đồng thẻ tín dụng cho đến ngày bà Bùi Thị T1 thực tế thanh toán hết nợ cho V1.
- Buộc bà Bùi Thị T1 phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ án phí
- Đại diện VKSND khu vực 3 gia phiên tòa, phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm và việc tuân theo pháp luật của các đương sự; Đồng thời đề xuất hướng giải quyết vụ án như sau:
+ Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện việc giao thông báo của Tòa án cho các đương sự, tiến hành các bước tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn giải quyết vụ án đúng quy định.
+ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự tố tụng.
+ Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành các thông báo của Tòa án. Bị đơn không chấp hành và đều vắng mặt.
Đề xuất hướng giải quyết vụ án:
Căn cứ trình bày của các đương sự, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ xác định theo hợp đồng thẻ tín dụng ngày 09/02/2023 và hợp đồng cho vay không tài sản đảm bảo, mở và sử dụng tài khoản thanh toán dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 09/12/2024 và các văn bản tín dụng kèm theo giữa bà Bùi Thị T1 với V1, đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật do vậy có hiệu lực thi hành với các bên. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn khoản tiền nợ gốc, tiền lãi của các hợp đồng tín dụng; tạm tính đến ngày 16/9/2026 buộc bà Bùi Thị T1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền Nợ gốc: 240.027.169 đồng; Nợ lãi và phí 144.992.441 đồng. Tổng cộng: 385.019.610 đồng. Bà Bùi Thị T1 phải chịu bộ án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa. Sau phần hỏi và tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
{1} Về tố tụng: Ngân hàng TMCP V khởi kiện bà Bùi Thị T1 theo hợp đồng tín dụng số LD2434402110 ngày 09/02/2023 và hợp đồng tín dụng số LD2435802540 ngày 23/12/2024 với Ngân hàng; bà Bùi Thị T1 có địa chỉ cư trú tại: Căn hộ C, tòa Nhà T, phường H, Thành phố Hà Nội. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 theo quy định tại Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết Toà án nhân dân khu vực 3 đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn bà Bùi Thị T1, tuy nhiên bà Bùi Thị T1 không đến Tòa trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V, các buổi làm việc tiếp theo bà Bùi Thị T1 đều vắng mặt không lí do, nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Vì vậy Tòa án nhân dân khu vực 3, Hà Nội ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ngày 28/8/2026 bà Bùi Thị T1 vắng mặt không có lí do nên HĐXX đã hoãn phiên tòa, tại phiên tòa hôm nay bà Bùi Thị T1 tiếp tục vắng mặt không có lý do nên HĐXX xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
{2} Về nội dung vụ án: {2.1}. Về hình thức của hợp đồng: Căn cứ lời trình bày của các bên đương sự, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy Ngân hàng TMCP V và bà Bùi Thị T1 có ký Hợp đồng tín dụng số LD2434402110 ngày 09/02/2023 và hợp đồng tín dụng số LD2435802540 ngày 23/12/2024; với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Hội đồng xét xử xét thấy giữa nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng tín dụng số LN2302078283062 ngày 07/02/2023; là hoàn toàn tự nguyện, các điều khoản hai bên thỏa thuận trong hợp đồng đều đáp ứng đủ điều kiện chủ thể ký kết hợp đồng và phù hợp với nội dung quy định tại Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010. Nội dung trong hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật, do vậy Hợp đồng tín dụng số LD2434402110 ngày 09/12/2023 và hợp đồng tín dụng số LD2435802540 ngày 23/12/2024 hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ chấp hành.
{2.2} Quá trình thực hiện Hợp đồng:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng đến nay bà Bùi Thị T1 đã sử dụng số tiền là 1.268.822.712 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.219.335.150 đồng, và ngưng không thanh toán cho Ngân hàng, vi phạm không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng TMCP V kể từ 15/7/2025. Do đó đến ngày 15/7/2025 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và phải chịu lãi suất là đúng theo quy định của Ngân hàng N theo quy định Điều 274; Điều 275; Điều 280; Điều 398; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Sau khi xem xét bảng tính lãi xuất do Ngân hàng cung cấp tạm tính đến ngày 16/9/2026 bà Bùi Thị T1 còn nợ ngân hàng của các hợp đồng tín dụng số tiền là: Nợ gốc: 240.027.169 đồng; Nợ lãi và phí 144.992.441 đồng. Tổng cộng: 385.019.610 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng của các bên và căn cứ tính lãi của ngân hàng là đúng quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với tổng số tiền: 385.019.610 đồng. Trong đó, Nợ gốc: 240.027.169 đồng; Nợ lãi và phí 144.992.441 đồng; lãi suất tạm tính đến ngày 16/9/2026 đối với bà Bùi Thị T1 theo Hợp đồng tín dụng số LD2434402110 ngày 09/12/2023; Hợp đồng tín dụng số LD2435802540 ngày 23/12/2024 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 324-P-5425633 ngày 09/12/2023 và các văn bản tín dụng kèm theo đã ký kết giữa hai bên là phù hợp quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.
Kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án sơ thẩm, bà Bùi Thị T1 phải chịu lãi suất của số tiền nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết khoản nợ vay. Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Trong vụ án này, nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu ai cùng với bị đơn thực hiện nghĩa vụ dân sự. Đối chiếu quy định pháp luật cũng với những tình tiết của vụ án, nhận định số tiền bị đơn đã sử dụng phục vụ nhu cầu cá nhân nên không buộc ai phải cùng có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ của bị đơn.
{2.3} Về án phí và quyền kháng cáo: Bà Bùi Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại tiết b điểm 1.3 Mục II, Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bà Bùi Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 5% giá trị tài sản có tranh chấp = 19.250.000 đồng (Mười chín triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng TMCP V số tiền 6.900.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013765 ngày 09/6/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 274; Điều 275; Điều 280; Điều 398; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ điểm b khoản 1.3 Mục II, Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
Buộc bà Bùi Thị T1 phải trả Ngân hàng TMCP V khoản tiền tính đến ngày 16/9/2026 là 385.019.610 đồng; Trong đó, Nợ gốc: 240.027.169 đồng; Nợ lãi và phí 144.992.441 đồng. Theo Hợp đồng tín dụng số LD2434402110 ngày 09/12/2023; Hợp đồng tín dụng số LD2435802540 ngày 23/12/2024 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 324-P-5425633 ngày 09/12/2023.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2026), bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
2. Về án phí:
Bà Bùi Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.250.000 đồng (Mười chín triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Trả lại Ngân hàng TMCP V số tiền 6.900.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013765 ngày 09/6/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội.
3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bà Bùi Thị T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 36, 71 và 72 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND khu vực 3; - Phòng THADS khu vực 3; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Phương |