- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "phạm nhu ngh - nguyễn thị h"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Như N về việc xác định cha cho con đối với chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2026/HNGĐ-ST Ngày: 28-4-2026 V/v: Tranh chấp xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thuý Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Quốc Khánh
Ông Phạm Văn Nhân
- Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Minh Toàn - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 242/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 03 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2026/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phạm Như N, sinh năm 1994, Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 10/7/2021; Địa chỉ: Cụm C, xã Ô, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994, Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 12/02/2025; Địa chỉ: Thôn C, xã N, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lương Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt).
Người làm chứng: Ông Lương Minh D, sinh năm 1944; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, tỉnh Ninh Bình; (Là bố đẻ anh Lương Văn T - vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 29-12-2025 trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Phạm Như N trình bày:
Vào năm 2023, anh và chị Nguyễn Thị H phát sinh quan hệ tình cảm và chị H đã mang thai, đến ngày 15/4/2024 chị H sinh 01 bé trai tại Bệnh viện P thành phố Hà Nội, lấy tên trên giấy chứng sinh là Phạm Nhật V. Tại thời điểm này, chị H còn tồn tại mối quan hệ hôn nhân với anh Lương Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, tỉnh Ninh Bình. Tháng 06/2025 anh T và chị H thuận tình ly hôn với nhau. Quá trình giải quyết vụ án ly hôn và tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn anh T và chị H xác định anh T và chị H chỉ có hai con chung là cháu Lương Bảo T1, sinh ngày 26/6/2014 và cháu Lương Đức T2, sinh ngày 02/12/2017. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 115/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định không xác định cháu Phạm Nhật V, sinh ngày 15/4/2024 là con chung của chị H và anh T. Do khi sinh cháu Phạm Nhật V trong thời gian chị H chưa ly hôn với anh T nên chưa thực hiện được việc đăng ký khai sinh cho cháu Phạm Nhật V. Nay anh N đã cung cấp Kết quả xét nghiệm AND số 1016124102025/HCGPC ngày 24/10/2025 của Công ty TNHH D1; Địa chỉ: Số C T, Y, Cầu G, Hà Nội. Nội dung kết luận như sau: “người có mẫu ghi tên Phạm Như N CÓ quan hệ huyết thống cha - con với người có mẫu ghi tên Phạm Nhật V với độ tin cậy 99,999999%.”. Do đó, anh N làm đơn đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu Phạm Nhật V, sinh ngày 15/4/2024 theo Giấy chứng sinh số 2551, quyển số ĐT 2024 ngày 15/04/2024 của Bệnh viện P với chị Nguyễn Thị H.
Tại bản tự khai ngày 29/12/2025 và trong quá trình tố tụng, bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị H thống nhất với lời khai của anh N về mối quan hệ với anh Phạm Như N và anh Lương Văn T, về việc chị H có quan hệ tình cảm dẫn đến mang thai với anh N và sinh ra một bé trai có tên dự kiến là Phạm Nhật V, sinh ngày 15/4/2024 trong thời gian còn tồn tại quan hệ vợ chồng với anh T. Nay anh Phạm Như N đề nghị Toà án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình xác định anh Nghĩa là cha đẻ của cháu Phạm Nhật V do chị sinh ra, chị H hoàn toàn đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu của anh N theo quy định pháp luật.
Tại Công văn số 011601 ngày 16/01/2026 Công ty TNHH D1, địa chỉ: số C T, Y, Cầu G, thành phố Hà Nội, ý kiến: Công ty có thực hiện việc giám định xác định quan hệ huyết thống giữa anh Phạm Như N, sinh năm 1994, Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 10/7/2021 với cháu Phạm Nhật V, sinh ngày 15/4/2024 (theo Giấy chứng sinh số 2551, quyển số ĐT 2024 ngày 15/04/2024 của Bệnh viện P). Xét nghiệm phân tích AND, kết quả xét nghiệm ADN số KQ 201016125 ngày 27/10/2025 đối với anh Phạm Như N (cha giả định) với cháu Phạm Nhật V (con giả định), kết quả xét nghiệm như sau: “Người có mẫu ghi tên Phạm Như N CÓ quan hệ huyết thống Cha - con với người có mẫu ghi tên Phạm Nhật V với độ tin cậy 99,999999%.”. Công ty xác nhận kết quả trên là đúng, quy trình thu mẫu làm xét nghiệm hoàn toàn chính xác và khách quan.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lương Văn T. Anh T đã biết được quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng quá trình giải quyết vụ án, anh T không đến Tòa án làm việc và cũng không gửi văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh N.
Người làm chứng ông Lương Minh D trình bày: Ông là bố đẻ của anh A Lương Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, tỉnh Ninh Bình. Hiện nay anh T đi làm ăn xa, ông nhận thay anh T các văn bản Tòa án giao cho anh T. Ông D cam đoan sẽ thông báo nội dung và giao tận tay cho anh T các văn bản của Tòa án. Ông cho biết: Trước đây anh Lương Văn T và chị Nguyễn Thị H có đăng ký kết hôn với nhau, anh T và chị H có hai con chung là cháu Lương Bảo T1, sinh ngày 26/6/2014 và cháu Lương Đức T2, sinh ngày 02/12/2017. Tháng 6/2025 Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn giữa anh T và chị H. Sau khi ly hôn hai con chung do anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời kỳ hôn nhân với anh T, khoảng tháng 4/2024 chị H có sinh một bé trai tên Phạm Nhật V nhưng anh T cũng như gia đình tôi đều biết cháu trai có tên Phạm Nhật V không phải là con của chị H và anh T. Nay anh T đã ly hôn chị H nên không còn liên quan gì đến chị H.
Do công việc bận không thể xin nghỉ được nên anh N và chị H đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình tại phiên tòa phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của các đương sự và kết quả xét nghiệm ADN số KQ 201016125 ngày 27/10/2025 “Người có mẫu ghi tên Phạm Như N CÓ quan hệ huyết thống Cha - con với người có mẫu ghi tên Phạm Nhật V với độ tin cậy 99,999999%.” nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Như N. Căn cứ Điều 88, 89, 102 Luật hôn nhân và gia đình; Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Như N; Xác định anh Phạm Như Nghĩa L cha đẻ của cháu bé có tên dự kiến là Phạm Nhật V, sinh ngày 15/4/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Như N và chị Nguyễn Thị H đều có ý kiến xin xét xử vắng mặt. Anh Lương Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh L1, chị C và anh T theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy: Trong thời gian chị Nguyễn Thị H và anh Lương Văn T đang tồn tại quan hệ hôn nhân thì anh Phạm Như N và chị Nguyễn Thị H có quan hệ tình cảm với nhau và có quan hệ tình dục dẫn đến có thai và ngày 15/4/2024 chị H sinh cháu bé có tên dự kiến là Phạm Nhật V. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 115/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xác định anh Lương Văn T và chị Nguyễn Thị H chỉ có hai con chung là cháu Lương Bảo T1, sinh ngày 26/6/2014 và cháu Lương Đức T2, sinh ngày 02/12/2017, không ghi nhận cháu Phạm Nhật V, sinh ngày 15/4/2024 là con chung của chị H và anh T. Tại Kết quả xét nghiệm ADN số KQ 201016125 ngày 27/10/2025 của Công ty TNHH D1, địa chỉ: số C T, Y, Cầu G, thành phố Hà Nội có nội dung kết luận: “Người có mẫu ghi tên Phạm Như N CÓ quan hệ huyết thống Cha - con với người có mẫu ghi tên Phạm Nhật V với độ tin cậy 99,999999%.”. Chị Nguyễn Thị H cũng nhất trí với kết luận giám định ADN này, không có yêu cầu gì khác. Anh T đã biết việc anh N đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu Phạm Nhật V với chị Nguyễn Thị H nhưng anh không có ý kiến gì.
Từ những phân tích trên và căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN số KQ 201016125 ngày 27/10/2025 của Công ty TNHH D1 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở khẳng định anh Phạm Như Nghĩa L cha đẻ của cháu Phạm Nhật V như đề nghị của đại diện Viên kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình tại phiên tòa là phù hợp. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Như Nghĩa L phù hợp với quy định tại Điều 89, 91, 101 và 102 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các đương sự không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 88, 89, Điều 91, Điều 101, Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Như N về việc xác định cha cho con đối với chị Nguyễn Thị H.
1.1. Xác định anh Phạm Như Nghĩa L cha đẻ của cháu bé có tên dự kiến là Phạm Nhật V, sinh ngày 15/4/2024 (theo Giấy chứng sinh số 2551, quyển số ĐT 2024 ngày 15/04/2024 của Bệnh viện P).
1.2. Anh Phạm Như N và chị Nguyễn Thị H có quyền liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
2. Về án phí: Các đương sự không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại cho anh Phạm Như N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0003925 ngày 29-12-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh; - VKSND khu vực 9 + tỉnh; - THADS tỉnh; - UBND xã Ô Diên; - Hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Phạm Văn N1 Trƣơng Quốc K | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thúy Nga THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |