- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Đình P "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Áp dụng các Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Đình P. Xử phạt: bị cáo Võ Đình P 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ng…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH KHÁNH HÒA ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2025/HS-ST Ngày 15-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân: bà Võ Thị Bời
bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: bà Dương Nguyễn Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố N - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Võ Đình P - sinh ngày 05/9/2003 tại Khánh Hoà; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn P 1 - xã P - huyện D - Khánh Hòa; Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Đình Đ (1969) và bà Nguyễn Thị Mộng T (1973); Tiền sự: không; Tiền án: Bản án số 19/2022/HSST ngày 26/5/2022, Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 01 năm 6 tháng. Bắt truy nã ngày 14/11/2023 chấp hành 9 tháng tù. Thi hành án tại Trại giam Thủ Đức. Chấp hành xong hình phạt từ ngày 14/8/2024; Bắt tạm giam từ ngày 14/8/2024; Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Thế A - sinh năm 2002; Vắng mặt.
HKTT: xã K - huyện K - Hà Tĩnh.
Tạm trú: 404/17/17 đường P - phường P - thành phố N - Khánh Hòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
bà Đặng Thị T - sinh năm 1988; Vắng mặt.
Trú tại: 34 đường Đ - phường P - thành phố N - Khánh Hòa.
bà Hồ Thị Mỹ L - sinh năm 1997; Vắng mặt. Trú tại: thôn T - xã N - thị xã N - Khánh Hòa.
- Người tham gia tố tụng khác: + Người làm chứng: Trần Huỳnh Trúc T - sinh năm 2001; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 14/11/2023, Võ Đình P được Tuấn A (chưa rõ nhân thân lai lịch) chở bằng xe máy Sirius màu vàng đen (không nhớ biển số) đi các tuyến đường thành phố N, xem có tài sản người dân không trông coi để trộm cắphường Khi cả hai đi đến trước nhà số 404/17/17 đường P - phường P - thành phố N, phát hiện cửa cổng không khóa, trong sân có dựng xe máy Wave, biển kiểm soát 79N3-064.97 của anh Nguyễn Thế A. Tuấn A đứng ngoài canh chừng, P đi vào dắt trộm xe máy Wave, Tuấn A điều khiển xe máy Sirius đẩy xe máy Wave do P điều khiển về phòng trọ của P cất giấu. Sau đó, P tháo biển số ném bụi cây gần đó. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, anh Nguyễn Thế A thức dậy phát hiện mất xe nên trình bào Công an phường P. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã V - thành phố N phối hợp Đội cảnh sát điều tra Công an thành phố N kiểm tra hành chính tại nhà cho thuê do chị Hồ Thị Mỹ L làm chủ (thôn Đ - xã V - thành phố N) phát hiện, thu giữ 06 xe máy không có giấy tờ, không rõ nguồn gốc:
- 01 xe máy hiệu Honda Winner, biển kiểm soát 79N2-983.10, số máy KC34E1233735, số khung RLHKC3710MY802183.
- 01 xe máy hiệu Honda SH Mode, biển kiểm soát 86B6-68686, số máy JF87E5020718, số khung RLHJF516XKZ106800.
- 01 xe máy hiệu Honda Wave, không gắn biển số, số máy JA39E2005094, số khung RLHJA392XLY005056. Biển số thật 79N3-064.97.
- 01 xe máy hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 79T2-1916, số máy JF27E0031392, số khung RLHJF1808AY030640.
- 01 xe máy hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 78L1-9128, số máy JA36E0153634, số khung RLHJA3615EY1000039. Biển số thật 79D1-376.38.
- 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 79D1-330.67, số máy G3D4E254528, biển số thật 76T1-033.53 Chị L khai số xe trên của Võ Đình P là người thuê trọ, để tại đây. Đội cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã mời Võ Đình P về trụ sở làm việc. Tại đây, P đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản xe máy Wave, biển kiểm soát 79N3-064.97.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 221/KL-HĐĐGTS ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố N: 01 xe máy Wave, biển kiểm soát 79N3-064.97 trị giá 14.770.000đ
Tại bản cáo trạng số 246/CT-VKSNT ngày 06/9/2024, VKSND thành phố N truy tố bị cáo Võ Đình P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo P từ 01 năm tù đến 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại anh Nguyễn Thế A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thị T, Hồ Thị Mỹ L và người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, hồ sơ thể hiện rõ lời khai của những người này nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định vào khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 14/11/2023, tại nhà số 404/17/17 đường P - phường P - thành phố N, Võ Đình P đã lén lút lấy của anh Nguyễn Thế A một xe máy Wave, biển kiểm soát 79N3-064.97, trị giá 14.770.000đ. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Ngày 26/5/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội "Trộm cắp tài sản". Trong thời gian thử thách của án treo, thì đến ngày 14/11/2023, bị cáo lại thực hiện hành vi trộm cắp xe máy của anh Nguyễn Thế A. Do đó, cần áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội. [5] Đối với các xe máy: 01 xe máy hiệu Honda Winner, biển kiểm soát 79N2-983.10, số máy KC34E1233735, số khung RLHKC3710MY802183. 01 xe máy hiệu Honda SH Mode, biển kiểm soát 86B6-68686, số máy JF87E5020718, số khung RLHJF516XKZ106800. 01 xe máy hiệu Honda Wave, không gắn biển số, số máy JA39E2005094, số khung RLHJA392XLY005056. Biển số thật 79N3-064.97. 01 xe máy hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 79T2-1916, số máy JF27E0031392, số khung RLHJF1808AY030640. 01 xe máy hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 78L1-9128, số máy JA36E0153634, số khung RLHJA3615EY1000039. Biển số thật 79D1-376.38. 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 79D1-330.67, số máy G3D4E254528, biển số thật 76T1-033.53. Tại phiên tòa, bị cáo khai không biết gì về những chiếc xe máy này là của ai. Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Xe máy hiệu Honda Winner, biển kiểm soát 79N2-983.10, số máy KC34E1233735, số khung RLHKC3710MY802183: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã có Thông báo số 9911/TB-CSĐT-ĐHS ngày 11/10/2024 về việc tiếp nhận tin báo về tội phạm và Quyết định tách hành vi tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 6502/QĐ-CSĐT-ĐHS ngày 11/10/2024. [6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại anh Nguyễn Thế A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thị T và Hồ Thị Mỹ L vắng mặt. Hồ sơ thể hiện anh Thế A đã nhận lại tài sản, cả anh Thế A, bà T và bà L đều không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. [7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH: Áp dụng các Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Đình P. Xử phạt: bị cáo Võ Đình P 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Không xét phần trách nhiệm dân sự giữa bị cáo Võ Đình P với bị hại Nguyễn Thế A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thị T, Hồ Thị Mỹ L.
Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Võ Đình P nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thành phố N; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - PV06 - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Chi cục thi hành án dân sự thành phố N; - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu THA hình sự, hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Mai Phương |