vanban.org

Bản án 115/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị Ngọc T được ly hôn anh Lê Văn T.

[2]. Về con chung: Giao con chung Lê Khánh Ngọc T, sinh ngày 21/8/2020 cho chị Thạch Thị Ngọc T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Lê Văn T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thạch Thị Ngọc Trâm- Lê Văn Tình"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị Ngọc T được ly hôn anh Lê Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰ 3 - HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 25/12/2025
V/v. Tranh chấp hôn nhân gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Huy Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Tâm, bà Hồ Hồng Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phú Quý - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh: Bà Nguyễn Thị Lê Na - Kiểm sát viên.

Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 26/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16/12/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Ngọc T, sinh năm 2000, địa chỉ: Ấp T, xã B, tỉnh Đồng Nai (Đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 08/10/2025).

- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn V, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của người xin ly hôn, nguyên đơn chị Thạch Thị Ngọc Trâm trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Thạch Thị Ngọc T và bị đơn anh Lê Văn T có đăng ký kết hôn ngày 11/7/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom (nay là xã Bàu Hàm), tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2025 đến nay. Nay nguyên đơn thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên yêu cầu ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung, nguyên đơn chị Thạch Thị Ngọc T đang nuôi con và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Khánh Ngọc T, sinh ngày 21/8/2020, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ, nơi sinh sống của bị đơn qua bà Nguyễn Thị L mẹ đẻ của bị đơn và chính quyền địa phương xác định bị đơn có xác nhận nơi cư trú và hiện sinh sống tại thôn Vĩnh Yên, xã Đức Đồng, tỉnh Hà Tĩnh nhưng do công việc nên đi làm ăn, cuối tuần mới về, bà Nguyễn Thị Liên nhận thay các văn bản tố tụng, giao ngay cho bị đơn, hiện bị đơn anh Lê Văn Tình đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án giao ( Biên bản làm việc ngày 28/11/2025).

Do nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án và mở phiên tòa xét xử để giải quyết vụ án theo các quy định tại các Điều 177, 207, 210, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Đại diện VKS nhân dân khu vực 3- Hà Tĩnh phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn thực hiện đúng, đủ quyền và nghĩa vụ; Bị đơn chưa thực hiện đúng, đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thạch Thị Ngọc T, cho chị Trâm được ly hôn anh Lê Văn T. Về con chung: Giao con chung Lê Ngọc Khánh T, sinh ngày 21/8/2020 cho chị Trâm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Buộc nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm dân sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thẩm quyền xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu ly hôn của chị Thạch Thị Ngọc T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giao nhận văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn theo quy định tại khoản 5 Điều 177 BLTTDS nhưng bị đơn không có mặt theo thông báo, nên tiến hành phiên họp kiểm tra chứng cứ vắng mặt bị đơn và thông báo kết quả cho bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS.

Tại phiên tòa, nguyên đơn (có đơn xin giải quyết vắng mặt), bị đơn vắng mặt không lý do nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự sau khi hoãn phiên tòa lần 01 (ngày 16/12/2025) là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thì hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn hoàn toàn hợp pháp.

Theo nguyên đơn, sau khi kết hôn vợ chồng đã chung sống được một thời gian nhưng do xảy ra mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2025 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, nên muốn ly hôn.

Đối với bị đơn, tuy đã được thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn không thực hiện quyền tham gia tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, cho thấy bị đơn không mong muốn níu kéo quan hệ hôn nhân với nguyên đơn.

Căn cứ hoàn cảnh sống hiện tại và quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy các đương sự đã sống ly thân không còn sống chung với nhau, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.

. Về con chung: Con chung của vợ chồng Lê Ngọc Khánh T hiện đang còn nhỏ, nguyên đơn có nguyện vọng nuôi dưỡng, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng tiền nuôi con chung, bị đơn không có yêu cầu. Xét thấy con chung là con gái còn nhỏ, từ khi ly thân đến nay do nguyên đơn chăm sóc, việc giao con cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp.

. Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 48, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 70, khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị Ngọc T được ly hôn anh Lê Văn T.

[2]. Về con chung: Giao con chung Lê Khánh Ngọc T, sinh ngày 21/8/2020 cho chị Thạch Thị Ngọc T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Lê Văn T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con không ai được phép cản trở. Các bên có thể thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu Tòa án thay đổi nếu người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện nuôi. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[3]. Về án phí: Chị Thạch Thị Ngọc T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí ly hôn đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai số 0000160 ngày 08/10/2025 của Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Tiền án phí chị Thạch Thị Ngọc Trâm đã nộp đủ.

[4]. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Cỡ chữ