- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trần Quốc L.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 115/2025/HN-ST Ngày: 23/4/2025 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Phạm Minh Đức
+ Ông Võ Văn Thống
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Đức Lập – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 02/2025/TLST-HN ngày 03/01/2025 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Trần Quốc L, sinh năm xxxx (có mặt),
Địa chỉ: khu phố L, thị trấn V, huyện G, tỉnh T.
* Bị đơn: Phan Thị H, sinh năm xxxx (vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố C, thị trấn V, huyện G, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Quốc L trình bày: anh và chị H cưới nhau vào năm 2021 do hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vàm Láng. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do chị H ăn chơi, cờ bạc gây ra nợ nần, anh nhiều lần khuyên ngăn nhưng chị H vẫn không thay đổi. Anh và chị H không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2025 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nữa nên anh xin được ly hôn với chị H.
Con chung có 01 con chung tên Trần Tấn T, sinh ngày xx/xx/xxxx, hiện đang sống với anh và chị H. Ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Tài sàn chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay:
Anh L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với chị H và giao con chung tên Trần Tấn T, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.
Bị đơn chị H vắng mặt không có lý do.
* Bị đơn chị Phan Thị H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho chị H nhưng chị H không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của anh L.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Anh L yêu cầu ly hôn với chị H và yêu cầu giao cho chị H tiếp tục nuôi con chung tên Trần Tấn T, sinh ngày xx/xx/xxxx, anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ và ý kiến của các đương sự:
Veà quan heä tranh chaáp vaø thaåm quyeàn giaûi quyeát vuï aùn: Anh L xin ly hôn với chị H nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ đang tranh chấp là “xin ly hôn”. Bị đơn chị Phan Thị H trú tại địa chỉ: khu phố Chợ 1, thị trấn Vàm Láng, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn chị Phan Thị H đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng chị H vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Anh L xin ly hôn với chị H do chị H ăn chơi, cờ bạc gây ra nợ nần, anh nhiều lần khuyên ngăn nhưng chị H vẫn không thay đổi. Anh L với chị H ly thân nhau từ đầu năm 2025 đến nay, trong thời gian này anh L và chị H đều không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm với nhau. Chị H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, chị H vẫn không đến để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của anh L, chứng tỏ chị H không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh L. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh L và chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh L yêu cầu ly hôn với chị H là có căn cứ chấp nhận.
- Về con chung: có 01 chung tên Trần Tấn T, sinh ngày xx/xx/xxxx, hiện đang sống với chị H. Khi ly hôn anh L giao con cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu T dưới 36 tháng tuổi hiện đang sống ổn định với chị H và chị H cũng không có ý kiến gì về việc yêu cầu của anh L giao con cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu T cho chị H nuôi dưỡng.
Về yêu cầu cấp dưỡng: Anh L không trực tiếp nuôi con nên anh L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình. Về mức cấp dưỡng anh L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy mức cấp dưỡng này là phù hợp và để đảm bảo cho cuộc sống cháu T. Do đó, anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T mỗi tháng là 2.000.000 đồng, thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi lao động được.
- Về tài sản chung, nợ chung: anh L trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.
Về án phí: do anh L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên anh L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 điều 277, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trần Quốc L.
[1] Về hôn nhân: Anh Trần Quốc L được ly hôn với chị Phan Thị H.
[2] Về con chung: Giao con chung tên Trần Tấn T, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị Phan Thị H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi lao động được.
Anh Trần Quốc L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 (Hai triệu) đồng, bắt đầu thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, lao động được.
Anh L và chị H có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con hoặc có sự thay đổi khác.
[3] Về án phí: Anh Trần Quốc L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0013872 ngày 30/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông nên anh L đã nộp xong án phí.
Anh L được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với chị H vắng mặt được tính từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Gò Công Đông; - Chi cục THADS huyện Gò Công Đông; - UBND TT Vàm Láng; - Ñöông söï; - Löu hoà sô, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nguyên |