vanban.org

Bản án 115/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Cho chị Trần Kim S được ly hôn với anh Phạm Minh Đ. Về con chung: Giao người con Phạm Ái V, sinh ngày 25/01/2009 cho chị Trần Kim S tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Phạm Minh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở. Chị Trần Kim S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Kim S yêu cầu ly hôn với anh Phạm Minh Đ"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-7-2024
V/v “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quang Minh Nghiêm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tâm, bà Đỗ Kim Phụng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Kha là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Đại Linh Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên toà: Ông Lê Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 277/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXX-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Kim S, sinh năm 1986.

Địa chỉ: ấp CG, xã Định Thành, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Anh Phạm Minh Đ, sinh năm 1984.

Địa chỉ: ấp LL, xã An Trạch, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Đ vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/5/2024, trong quá trình tố tụng, chị Trần Kim S trình bày:

Về hôn nhân: Chị với anh Đ chung sống vào năm 2004, hôn nhân tự nguyện, được cha mẹ tổ chức đám theo phong tục tại địa phương và đến Ủy ban nhân dân xã An Trạch, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu đăng ký kết hôn ngày 23/11/2010.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng gần đây vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cuộc sống không còn hạnh phúc. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung, không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nếu tiếp tục chung sống không còn hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn.

Về con: Chị và anh Đ có 02 con chung gồm Phạm Ái V, sinh ngày 25/01/2009 hiện nay đang sống cùng chị, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con; Phạm Chúc V1, sinh ngày 26/8/2005 đến nay đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết.

Anh Phạm Minh Đ vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu phát biểu:

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn chưa chấp hành giấy triệu tập của Tòa án.

Ý kiến về giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Năm 2004, chị S và anh Đ tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong thời gian chung sống anh, chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Xét thấy, hôn nhân của chị S và anh Đ lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho chị S được ly hôn với anh Đ là phù hợp.

Về con: Người con Phạm Ái V, sinh ngày 25/01/2009 hiện nay đang sống cùng chị S nên giao con cho chị tiếp tục nuôi là phù hợp. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở. Chị S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Người con Phạm Chúc V1 đến nay đã thành niên nên không xem xét.

Về tài sản: Chị S xác định không có tài sản nên không xem xét.

Về án phí đương sự nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Trần Kim S yêu cầu ly hôn với anh Phạm Minh Đ, anh Đ có địa chỉ cư trú tại ấp LL, xã An Trạch, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Chị S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị S và anh Đ.

. Về nội dung:

. Về hôn nhân: Năm 2004, chị S và anh Đ tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Trạch, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống giữa chị S và anh Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau, hiện nay chị S xác định mâu thuẫn giữa chị và anh Đ đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ. Tuy nhiên, qua thời gian chung sống giữa chị S và anh Đ không thực hiện được mà còn phát sinh nhiều mâu thuẫn. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Đ đến tham dự phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy hôn nhân của anh, chị đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị S được ly hôn với anh Đ là phù hợp.

. Về con: Xét thấy, người con Phạm Ái V, sinh ngày 25/01/2009 hiện nay đang sống cùng chị nên giao con cho chị S tiếp tục nuôi là phù hợp, anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở. Chị S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Người con Phạm Chúc V1 đến nay đã thành niên nên không xem xét.

. Về tài sản: Chị S xác định không có nên không xem xét.

. Về án phí: Chị S nộp 300.000 đồng, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Kim S được ly hôn với anh Phạm Minh Đ.

2. Về con chung: Giao người con Phạm Ái V, sinh ngày 25/01/2009 cho chị Trần Kim S tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Phạm Minh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở. Chị Trần Kim S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Người con Phạm Chúc V1 đã thành niên nên không xem xét.

3. Về tài sản: Chị Trần Kim S xác định không có nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Trần Kim S nộp 300.000 đồng, chị Trần Kim S đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010288 vào ngày 27/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải được chuyển thu án phí.

Án xử công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ