vanban.org

Bản án 115/2023/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

sung năm 2012. 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Kinh doanh thương mại"
  • Tòa quyết gì? 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_______________________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2023/KDTM-ST
Ngày: 20-9-2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán điện”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng Sen

2. Bà Lâm Thu Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7,

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tú – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2023/TLST-KDTM

ngày 19 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán điện” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số 299/2023/QĐXXST-KDTM ngày 01 tháng 8 năm

2023; Quyết định hoãn phiên toà số 225/2023/QĐST-KDTM ngày 28 tháng 8

năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Tổng Công ty Điện lực T

Trụ sở: Số 35 T, phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Khắc Q, sinh năm

1980 (Giấy ủy quyền số 1088/UQ-PCTT ngày 12/9/2022 của Chi nhánh Tổng

Công ty Điện lực T – Công ty Điện lực Tân T).

Địa chỉ: Số 62 đường Lê Quốc H, Phường 13, Quận B, Thành phố

Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D

Địa chỉ kinh doanh: Số 582/8+582/9+582/10 đường H, phường T, Quận 7,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D: Bà Phạm Thị Ngọc D,

sinh năm 1950 (theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 41G8025166 đăng ký lần đầu, ngày 22/01/2015 do Ủy ban nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cấp).

Địa chỉ: Số 377/38 đường C, Phường 12, Quận M, Thành phố

Hồ Chí Minh.

(ông Lê Khắc Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà Phạm Thị Ngọc D

vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 22/9/2022 của Tổng Công ty Điện lực T (sau đây

viết tắt là Tổng Công ty Điện lực) và quá trình giải quyết vụ án ông Lê Khắc Q là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 31/12/2019, Chi nhánh Tổng Công ty Điện lực T - Công ty Điện lực

Tân T có ký hợp đồng số 19/002288 về việc mua bán điện phục vụ mục đích kinh doanh dịch vụ với Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D, người đại diện là bà Phạm Thị Ngọc D.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Phạm Thị Ngọc D là người đại diện Hộ

kinh doanh Phạm Thị Ngọc D đã thanh toán đầy đủ và đúng hạn tiền điện sử dụng hàng tháng. Tuy nhiên, từ các tháng 06, 07, 08 năm 2020 đến nay bà Phạm Thị Ngọc D đã không thanh toán tiền điện đúng hạn theo họp đồng đã ký nêu trên, còn nợ tiền điện tổng số tiền là 10.620.739 đồng (theo 03 hóa đơn gồm: Hóa đơn số 4748277 sử dụng điện từ ngày 15/05/2020 đến 14/06/2020, số tiền 5.145.853 đồng; Hóa đơn số 4916964 sử dụng điện từ ngày 15/06/2020 đến 14/07/2020, số tiền 4.166.109 đồng và Hóa đơn số 5086119 sử dụng điện từ ngày 15/07/2020 đến 14/08/2020, số tiền 1.308.777 đồng).

Do bà Phạm Thị Ngọc D là người đại diện Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc

D vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền điện theo hợp đồng đã ký nêu trên, nên Tổng Công ty Điện lực yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D do bà Phạm Thị Ngọc D là người đại diện phải thanh toán đủ số tiền điện còn nợ là 10.620.739 đồng cho Tổng Công ty Điện lực. Trả một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Đối với bị đơn là Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D: Tòa án đã tống đạt

hợp lệ cho bà Phạm Thị Ngọc D là người đại diện Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Điện lực; giấy triệu tập đương sự và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (lần 2), nhưng bà D vẫn không có mặt theo giấy triệu tập, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và bà D cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Điện lực.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Ông Lê Khắc Q là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng

mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Về phía bị đơn: Bà Phạm Thị Ngọc D là người đại diện Hộ kinh doanh

Phạm Thị Ngọc D đã được Tòa án đã triệu tập lần 2, nhưng vắng mặt không

lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân

công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật Tố

tụng dân sự. Việc xác định tư cách tham gia tố tụng; việc xác minh, thu thập

chứng cứ, giao nhận chứng cứ, giao nhận thông báo thụ lý vụ án đúng quy định

của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực

hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa,

đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người

đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70,

Điều 71, Điều 85 và Điều 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn không

thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự

2015.

- Về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về kinh doanh,

thương mại đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Hoàn trả

tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét

tại phiên tòa; ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử

nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa

Tổng Công ty Điện lực và Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D do bà Phạm Thị

Ngọc D là người đại diện phát sinh từ Hợp đồng mua bán điện số 19/002288; mã

khách hàng: PE05000186280-10JK450-A ngày 31/12/2019. Xét đây là vụ án

tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hoá, phát sinh trong hoạt động kinh doanh,

thương mại. Bị đơn là Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D có địa chỉ kinh doanh tại

Quận 7. Theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a

khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền

giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự có mặt của đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên

đơn ông Lê Khắc Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Về phía bị đơn, bà Phạm Thị Ngọc D là người đại diện Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Đối với yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Điện lực yêu cầu Tòa án

giải quyết buộc Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D do bà Phạm Thị Ngọc D là người đại diện phải trả đủ số tiền điện còn nợ của 03 hoá đơn là 10.620.739 đồng cho Tổng Công ty Điện lực. Trả một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ các Hóa đơn số 4748277, kỳ hóa đơn tháng 6/2020 Hộ kinh

doanh Phạm Thị Ngọc D sử dụng điện từ ngày 15/05/2020 đến 14/06/2020, số tiền 5.145.853 đồng; Hóa đơn số 4916964, kỳ hóa đơn tháng 7/2020 Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D sử dụng điện từ ngày 15/06/2020 đến 14/07/2020, số tiền 4.166.109 đồng và Hóa đơn số 5086119, kỳ hóa đơn tháng 8/2020 Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D sử dụng điện từ ngày 15/07/2020 đến 14/08/2020, số tiền 1.308.777 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở xác định Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D có sử dụng điện và còn nợ tiền điện của 03 hoá đơn như đã nêu trên với tổng số tiền là 10.620.739 đồng. Tại khoản 1 Điều 23 Luật Điện lực năm 2012 quy định thanh toán tiền điện: “1. Bên mua điện phải thanh toán đủ và đúng thời hạn số tiền điện ghi trong hóa đơn cho bên bán điện theo biểu giá điện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Tiền điện được thanh toán tại trụ sở, nơi ở của bên mua điện hoặc tại địa điểm thuận lợi do hai bên thoả thuận trong hợp đồng mua bán điện….”. Do đó, yêu cầu của Tổng Công ty Điện lực là có căn cứ được chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty Điện lực được chấp

nhận, nên Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D do bà Phạm Thị Ngọc D là người đại diện phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về kinh doanh, thương mại số tiền là 3.000.000 đồng, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 24 và Điều 50 Luật Thương mại;

- Căn cứ vào các Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 22, Điều 23 và khoản 2 Điều 46 Luật Điện lực sửa đổi, bổ

sung năm 2012.

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của Tổng Công ty Điện lực T.

Buộc Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D do bà Phạm Thị Ngọc D là người

đại diện phải trả cho Tổng Công ty Điện lực T tổng số tiền điện còn nợ là

10.620.739 (mười triệu sáu trăm hai mươi ngàn bảy trăm ba mươi chín) đồng

(theo 03 Hóa đơn số 4748277, kỳ hóa đơn tháng 6/2020; Hóa đơn số 4916964, kỳ

hóa đơn tháng 7/2020 và Hóa đơn số 5086119, kỳ hóa đơn tháng 8/2020). Trả

một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Các bên đương sự thi hành bản án

tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Tổng Công ty Điện lực T cho

đến khi thi hành án xong khoản tiền phải trả cho Tổng Công ty Điện lực T nêu

trên, hàng tháng Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D do bà Phạm Thị Ngọc D là

người đại diện còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án,

tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2

Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Hộ kinh doanh Phạm Thị Ngọc D do bà Phạm Thị Ngọc D là

người đại diện chịu án phí dân sự sơ thẩm về kinh doanh, thương mại số tiền là

3.000.000 (ba triệu) đồng.

Hoàn trả lại cho Tổng Công ty Điện lực T tiền tạm ứng án phí đã nộp là

3.000.000 (ba triệu) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số

AA/2021/0015828 ngày 19/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7,

Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn

kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án

được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh có

quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án

dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người

phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ