vanban.org

Bản án 115/2023/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 12/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN THÀNH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2023/HSST
Ngày: 12/12/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Dũng;

Ông Lê Bá Thành.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 12/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 105/2023/HSST ngày 22/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐXXST-HS ngày 28/11/2023 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 2000.

HKTT: Thôn Bút T, xã Đình T, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị D; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Thuận Thành. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

+ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn Phú M, xã Đình T, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)

+ Anh Biện Xuân T1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn Á L, xã Đại Đồng T, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Tạ Quang T2, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu phố Tư T, phường Trí Q, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)

+ Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn Bút T, xã Đình T, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ ngày 18/7/2023 đến ngày 11/8/2023, Nguyễn Văn T đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng hơn 12 giờ ngày 18/7/2023, T điều khiển xe đạp điện sơn màu đen, không biển kiểm soát đi từ nhà theo đường giáp đê Đình Tổ hướng về thôn Phú Mỹ, xã Đình Tổ để xem có nhà dân nào sơ hở thì đột nhập vào trộm cắp tài sản. Khi đi đến đoạn lối rẽ vào thôn Phú Mỹ khoảng 50m thì T thấy nhà bà Nguyễn Thị M khóa cổng, không có ai ở nhà. Vì vậy, T đi đến gần cổng nhà bà M thấy cửa cổng khóa bằng 01 khóa dây nên T dựng xe đạp điện ở gần ghế đá giáp tường bao quanh nhà bà M rồi đứng lên ghế đá trèo qua tường vào trong sân. Khi vào trong sân, T thấy cửa nhà khóa, T đi vòng ra phía sau tìm lối vào thì thấy cửa ngách phía sau không khóa nên T đẩy cửa đi vào trong nhà. T quan sát thấy phòng khách tầng 1 có 01 tủ nhựa màu xanh, loại tủ đựng đồ dùng của trẻ em kê sát cửa sổ. T tiến lại gần mở 01 ngăn tủ phía trên cùng ra kiểm tra thì phát hiện bên trong ngăn tủ có 01 máy tính laptop (xách tay) nhãn hiệu ASUS Zenbook 13, vỏ màu đen và 01 bộ sạc máy tính. T lấy máy tính laptop và bộ sạc trên để ở ghế rồi đi lên tầng hai. Khi lên tầng hai, T thấy 01 phòng ngủ cửa phòng không khóa nên T mở cửa đi vào bên trong. T quan sát thấy bên tay phải theo hướng từ cửa ra vào có 01 bàn làm việc, trên mặt bàn có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vsmart live 4, vỏ màu đen xám, bị vỡ kính màn hình. T cầm chiếc điện thoại trên cất vào túi quần rồi đi xuống tầng 01 cầm máy tính và bộ sạc trước đó để ở ghế rồi trèo tường ra ngoài đi về nhà. Khi về đến nhà, T cất toàn bộ tài sản vừa trộm cắp được vào trong phòng ngủ của T. Sau đó, T bỏ chiếc điện thoại trên ra kiểm tra thấy điện thoại không lên nguồn, sạc pin không vào điện. Vì vậy, T điều khiển xe đạp điện và mang theo máy tích laptop cùng chiếc điện thoại nêu trên đi ra đường Tô Quyền hướng về cầu Dâu để đem đi bán. Khi đi đến đoạn cầu gỗ thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, thị xã Thuận Thành, T đã vứt chiếc điện thoại nêu trên xuống mương nước bên tay phải theo hướng đi. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe đạp điện đi theo đường QL 17 hướng ra Hà Nội ra Trường Đại học dệt may thuộc địa phận khu phố Đa Tiện, phường Xuân Lâm bán máy tính. T vào Cửa hàng mua bán, sửa chữa máy tính có tên “Kinh Bắc computer” do anh Tạ Quang T2 bán chiếc máy tính trên cho anh T2. Anh T2 kiểm tra thấy màn hình máy tính bị vỡ nên trả T với giá 2.700.000 đồng. T đồng ý bán, rồi cầm tiền đi về nhà, sau đó chơi điện tử và tiêu xài cá nhân hết số tiền 2.700.000 đồng.

Ngày 12/9/2023, bà Nguyễn Thị M đã làm đơn trình báo Cơ quan điều tra đồng thời giao nộp 01 đĩa DVD có chứa hình ảnh vụ việc.

Ngày 12/9/2023, anh Tạ Quang T2 đã giao nộp 01 máy tính laptop nhãn hiệu Asus Zenbook 13 vỏ ngoài màu đen, số seri MCNOLPOOK 160491 (đã được anh T2 thay màn hình FHD với giá 1.700.000 đồng để bán lại cho khách khi có nhu cầu mua) và 01 bộ sạc máy tính màu đen có số seri 352097 nhãn hiệu Asus cho Cơ quan điều tra để phục vụ công tác điều tra.

Cùng ngày, Nguyễn Văn T đã đến Cơ quan điều tra đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên. Đồng thời giao nộp 01 xe đạp điện nhãn hiệu Jili, màu đen và trang phục T mặc ngày 18/7/2023 (gồm 01 áo sơ mi dài tay, màu xám, mặt sau lưng có in chữ Công ty TNHH đầu tư xây dựng và nội thất Phương Đông; 01 quần ngố vải thun, ống quần bên trái có kẻ sọc ngang màu trắng).

Tại Kết luận định giá tài sản số 32 ngày 13/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Thuận Thành kết luận:

+ 01 máy tính laptop nhãn hiệu Asus Zenbook 13, vỏ màu đen, mua mới tháng 02/2022 với giá 23.298.000 đồng bị chiếm đoạt ngày 18/7/2023 có giá trị là 15.000.000 đồng.

+ 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart live 4 vỏ màu đen xám, bị vỡ kính màn hình, mua mới tháng 10 năm 2020 với giá 3.700.000 đồng bị chiếm đoạt ngày 18/7/2023 có giá trị là 500.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 11/8/2023, T một mình, điều khiển xe đạp điện sơn màu đen, không biển kiểm soát đi từ nhà đến thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành rồi đi theo đường ngõ trong thôn để xem có nhà dân nào sơ hở thì đột nhập vào trộm cắp tài sản. T đi lòng vòng một lúc thì phát hiện 01 ngôi nhà 3 tầng (nhà anh Biện Xuân T) đang đóng cổng. T dựng xe đạp điện ở đầu ngõ cách nhà anh T khoảng 05m rồi xuống xe đi bộ đến cổng kiểm tra thấy cổng đóng, bên trong có chốt kéo ngang nhưng không có khóa, quan sát trong nhà không có ai. T mở cổng đi vào bên trong sân thấy cửa chính khóa, cửa ngách không khóa nên T đẩy cửa đi vào trong nhà, rồi đi lên tầng 2 tìm tài sản để trộm cắp. T quan sát thấy 01 phòng ngủ bên tay trái không khóa cửa. T đi vào phòng lục lọi trên giường nhưng không thấy tài sản gì. T quay ra thì nhìn thấy 01 con lợn sành màu vàng cam ở trên mặt bàn gỗ kê gần cửa sổ phòng ngủ. T cầm con lợn lên lắc qua lắc lại thấy bên trong có tiền nên T bê con lợn sành xuống tầng 1 rồi đi ra ngoài theo đường cũ. Khi ra cổng, T khép cổng và chốt lại như cũ rồi giấu con lợn sành bên trong áo trước bụng để tránh bị phát hiện. Quá trình di chuyển về, T tay trái ôm con lợn sành trước bụng còn tay phải điều khiển xe đi ra đường bê tông gần cánh đồng thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh cách nhà anh T khoảng 500m thì T dừng lại. Tại đây, T dùng hai tay bê con lợn sành lên rồi đập xuống mặt đường bê tông làm con lợn sành bị vỡ ra thành nhiều mảnh, thấy bên trong con lợn có nhiều mệnh giá tiền khác nhau. T vơ tiền đút vào túi quần bên trái rồi dùng chân gạt mảnh vỡ của con lợn sành xuống mương nước. Sau đó, T điều khiển xe đi về nhà. Về đến nhà, T vào phòng ngủ kiểm tra và đếm số tiền vừa trộm cắp được 4.730.000 đồng (gồm các tiền polime có mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng, 50.000 đồng, 20.000 đồng và 10.000 đồng). Sau đó, T đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 19/9/2023, anh Biện Xuân T đã làm đơn trình báo Cơ quan điều tra đồng thời giao nộp 01 đĩa DVD có chứa hình ảnh vụ việc cho Cơ quan điều tra.

Ngày 25/9/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho T giải trình hình ảnh lưu giữ trong 02 đĩa DVD do bà M và anh T cung cấp. Kết quả giải trình xác định: Hồi 12 giờ 44 phút ngày 18/7/2023, T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhà bà Nguyễn Thị M. Hồi 09 giờ 41 phút ngày 11/8/2023, T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhà anh Biện Xuân T.

Ngày 27/10/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra yêu cầu T thực hiện lại hành vi phạm tội của mình. Kết quả thực nghiệm điều tra hoàn toàn phù hợp với lời khai của T, lời khai của bị hại đã trình bày và các tài liệu khác được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 108/CT-VKS ngày 21/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Bà Nguyễn Thị M, anh Biện Xuân T, anh Tạ Quang T2 đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Ngoài ra bà M có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành duy trì công tố tại phiên toà hôm nay sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, các chứng cứ, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên tội danh như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 14 đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 đến 40 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay, màu xám, mặt sau lưng có in chữ Công ty TNHH đầu tư xây dựng và nội thất Phương Đông; 01 quần ngố vải thun, ống quần bên trái có kẻ sọc ngang màu trắng.

Bị cáo chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, cùng thời gian, địa điểm phạm tội cũng như lời khai của người bị hại đã có đủ căn cứ để xác định:

Trong hai ngày 18/7/2023 và ngày 11/8/2023, Nguyễn Văn T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng hơn 12 giờ ngày 18/7/2023, tại thôn Phú Mỹ, xã Đình Tổ, thị xã Thuận Thành, T có hành vi lén lút trộm cắp 01 máy tính laptop nhãn hiệu Asus Zenbook 13, vỏ màu đen, có giá trị là 15.000.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart live 4 vỏ màu đen xám, bị vỡ kính màn hình có giá trị là 500.000 đồng của bà Nguyễn Thị M. Tổng giá trị tài sản là 15.500.000 đồng. Sau đó, T đã bán 01 máy tính laptop trên cho anh Tạ Quang T2 tại cửa hàng mua bán điện thoại tại khu vực Trường Đại học Dệt May Hà Nội thuộc địa phận khu phố Đa Tiện, phường Xuân Lâm, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh với giá 2.700.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 11/8/2023, tại thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, thị xã Thuận Thành, T có hành vi lén lút trộm cắp số tiền 4.730.000 đồng bên trong 01 con lợn sành màu vàng cam của anh Biện Xuân T.

Do vậy hành vi của Nguyễn Văn T đã phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, phải được xét xử kịp thời để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[2] Xét về tính chất vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Bị cáo tuổi đời còn trẻ, sinh ra trong gia đình con em lao động, không chịu làm ăn chân chính nhưng lại muốn có tiền ăn tiêu một cách nhanh chóng nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; Bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Bị hại là bà Nguyễn Thị M có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Sau khi phạm tội bị cáo đã đến Cơ quan điều tra đầu thú. Bản thân bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ và được UBND xã Đình Tổ tặng Giấy khen do có tinh thần xung phong tự nguyện tham gia quân ngũ; Có ông nội và bà nội được Nhà nước tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên tuy nhiên các lần bị cáo phạm tội đều là tội ít nghiêm trọng và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ do vậy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

[3] Về trách nhiệm dân sự:

Bà Nguyễn Thị M đã nhận lại chiếc máy tính và số tiền 500.000 đồng (trị giá chiếc điện thoại Vsmart live 4). Anh Biện Xuân T đã nhận lại số tiền 4.730.000 đồng. Anh Tạ Quang T2 đã nhận số tiền 4.400.000 đồng (là giá của chiếc máy tính mà anh T2 đã mua của T và giá trị của màn hình máy tính mà anh T2 đã thay) do bà Nguyễn Thị D bồi thường thay cho T. Bà M, anh T và anh T2 không yêu cầu T phải bồi thường gì thêm. Đối với 01 con lợn sành bị vỡ, do giá trị nhỏ nên anh T không yêu cầu định giá và không yêu cầu T phải bồi thường do vậy không đặt ra xem xét.

Đối với số tiền bà Nguyễn Thị D đã bỏ ra để bồi thường cho bà M, anh T, anh T2 thay cho bị cáo đến nay bà D không yêu cầu bị cáo phải trả lại do vậy không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về vật chứng:

Đối với 01 máy tính laptop là tài sản T trộm cắp của bà M. Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại cho bà M là phù hợp.

Đối với chiếc xe đạp điện nhãn hiệu JILI, sơn màu đen, không gắn biển số T sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Qua điều tra xác định chiếc xe đạp điện trên là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị D. Ngày 18/7/2023 và ngày 11/8/2023, bà D đi làm, để xe đạp điện ở nhà, T tự ý lấy xe đạp điện của bà để đi, bà D không biết việc T sử dụng chiếc xe đạp điện trên để trộm cắp tài sản. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe đạp điện nêu trên cho bà D là phù hợp.

Đối với chiếc điện thoại Vsmart live 4 mà T đã vứt xuống mương nước thuộc khu vực cầu gỗ thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ. Cơ quan điều tra đã tiến hành tìm kiếm và ra thông báo truy tìm đối với chiếc điện thoại nêu trên nhưng chưa có kết quả nên chưa xử lý được là phù hợp.

Đối với số vật chứng còn lại gồm: 01 áo sơ mi dài tay, màu xám, mặt sau lưng có in chữ Công ty TNHH đầu tư xây dựng và nội thất Phương Đông; 01 quần ngố vải thun, ống quần bên trái có kẻ sọc ngang màu trắng. Xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 đĩa DVD lưu giữ hình ảnh Nguyễn Văn T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 18/7/2023 và 11/8/2023 là tài liệu được lưu trữ trong hồ sơ.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo cho UBND xã Đình Tổ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay, màu xám, mặt sau lưng có in chữ Công ty TNHH đầu tư xây dựng và nội thất Phương Đông; 01 quần ngố vải thun, ống quần bên trái có kẻ sọc ngang màu trắng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/12/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận Thành và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ