- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 115/2023/HS-ST Ngày: 27 – 4 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Hoàng Thuận.
Bà Võ Thị Thu Thuỷ.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Đặng Tuấn A, sinh năm 1995 tại tỉnh Sóc Trăng; Hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Đặng Văn T và bà Lê Thị V; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam theo Quyết định truy nã từ ngày 15/12/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Ông Lê Văn T, sinh năm 1992; Thường trú: L, Phường 5, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số A đường X2, khu phố 3, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị Hoàng O, sinh năm 1988; Thường trú: Ấp L, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; Tạm trú: Số A đường X2, khu phố 3, phường A, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Phan Văn Y, sinh năm 1977; Trú tại: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
2. Ông Đinh Nho Q, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn T, xã Tân M, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
3. Ông Đinh Nho D, sinh năm 1990; Thường trú: Thôn T, xã Tân M, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Tạm trú: đường N, Phường 8, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
4. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1992; Trú tại: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: đường N, Phường 8, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
5. Bà Trần Thị Bích H, sinh năm 1963; Trú tại: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
6. Ông Nguyễn Anh D, sinh năm 1990; Trú tại: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
7. Ông Đặng Tuấn K, sinh năm 1997; Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị V, bà Trần Thị Hồng T. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Tuấn Kh và bà Nguyễn Thị Hoàng O làm chung trong Công ty Thông Dụng. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 23/10/2019, Kh và bà O xảy ra mâu thuẫn về việc sản xuất giày. Kh điện thoại cho Đặng Tuấn A (là anh trai của Khang) kể lại sự việc thì An nói để chiều đến nói chuyện. Thấy Kh gọi điện thoại cho anh nên bà O điện thoại cho chồng là ông Lê Văn T đến Công ty đón về.
Khoảng 12 giờ cùng ngày, Đặng Tuấn Kh xin Công ty nghỉ để về phòng trọ. Trong khi ngồi chờ giải quyết ra cổng thì Kh gặp bà O, bà O nói “Giờ có muốn chém thì chém đi”. Kh đi về phòng trọ lấy 01 con dao dài khoảng 40cm, 01 cây gậy 3 khúc bỏ vào balo rồi mang đến để trước Công ty rồi Kh vào Công ty làm việc. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Kh ra lấy balo đựng hung khí, Tuấn A cùng hai người bạn tên Bi và Thắng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cũng đến, lúc này ông T điều khiển xe mô tô chở bà O cùng bà Trần Thị Hồng T về. Khi đến địa chỉ số 22/A11, khu phố 3, phường An Phú, thị xã (nay là thành phố) Thuận An thì ông T nhìn thấy Kh, A cùng 02 người thanh niên khác cầm dao, gậy ba khúc đang đứng chờ, ông T dừng xe nói bà O và Tươi xuống xe. Kh cầm dao lao vào chém ông T, ông T đưa tay cầm cây mài dao lên đỡ thì bị Kh chém đứt 01 ngón tay phải và rớt cây mài dao xuống. Kh tiếp tục cầm dao chém vào vai và cánh tay phải của bà O gây thương tích. Thấy bà O bị chém, ông T lao vào dùng tay đánh lại thì bị Kh và An dùng dao chém trúng cẳng tay phải, cẳng tay trái, trán gây thương tích. Sau đó Khang, An và 2 người thanh niên bỏ chạy thoát. ông T và bà O được đưa đến bệnh viện điều trị thương tích.
Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 550/2019/GĐPY ngày 05/12/2019 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh Bình Dương kết luận bị hại bà Nguyễn Thị Hoàng O thương tích như sau:
- Khám thương tích hiện tại:
Vết thương mặt sau cánh tay phải 1/3 dưới hình vòng cung 11,5x0,3cm, đứt gần hoàn toàn cơ tam đầu cánh tay, sẹo lành.
Vết thương vai phải 2 x 0,5cm, vết thương 1/3 dưới mặt sau cẳng tay phải 1,4x0,1cm, sẹo lành.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 10%.
- Cơ chế hình thành vết thương:
+ Vết thương mặt sau cánh tay phải 1/3 dưới: Hình vòng cung, chiều nằm ngang, hướng từ sau tới chếch từ dưới lên, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
+ Vết thương vai phải: Chiều nằm ngang từ phải sang trái, hướng từ trên xuống, bờ tương đối gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
+ Vết thương 1/3 dưới mặt sau cẳng tay phải: Chiều nằm nghiêng xuống từ phải sang trái, hướng từ sau ra trước, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 552/2019/GĐPY ngày 05/12/2019 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh Bình Dương kết luận bị hại ông Lê Văn T thương tích như sau:
- Khám thương tích hiện tại: Vết thương trán 3x0,1cm, vết thương bờ ngoài 1/3 giữa cẳng tay phải 4x0,3cm, vết thương bờ trong 1/3 dưới cẳng tay trái 3x0,1cm, sẹo lành.
Vết thương ngón III tay phải 3x0,2cm, gãy hở đốt xa ngón III, đã cal.
Vết thương cụt ngang 1/2 đốt gân ngón IV tay phải, mõm cụt lành.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 14%.
- Cơ chế hình thành vết thương:
+ Vết thương trán: Chiều nghiêng xuống từ phải sang trái, hướng từ trước ra sau, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
+ Vết thương bờ ngoài 1/3 cẳng tay phải: Chiều chếch lên từ phải sang trái, hướng từ phải sang trái, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc nhọn gây ra.
+ Vết thương bở trong 1/3 dưới cẳng tay trái: Chiều nằm ngang, hướng từ phải sang trái, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
+ Vết thương ngón III tay phải: Chiều nằm ngang, hướng từ trái sang phải, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
+ Vết thương cụt ngang ½ đốt gần ngón IV tay phải: Chiều nằm ngang, hướng từ trái sang phải, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
Bản Cáo trạng số 82/CT-VKS-TA ngày 07/3/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Đặng Tuấn A về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 23/10/2019, tại khu vực trước nhà số 22/A11, khu phố 3, phường An Phú, thị xã (nay là thành phố) Thuận An, bị cáo Đặng Tuấn A cùng Đặng Tuấn Kh và 02 người khác dùng dao, cây sắt là hung khí nguy hiểm chém vào tay phải, tay trái, trán của ông Lê Văn T gây thương tật với tỷ lệ 14% và chém vào tay phải, vai phải của bà Nguyễn Thị Hoàng O gây thương tật với tỷ lệ 10%. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì sự mâu thuẫn của Kh với bà O trong quá trình làm việc chung, sau khi Kh báo sự việc mâu thuẫn thì bị cáo đến rồi cùng Kh và hai đối tượng tên Bi và Thắng sử dụng dao, gậy chém bị hại gây thương tích. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp. Sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý, do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì, chỉ qua lời nói của Khang, bị cáo sử dụng dao chém bị hại gây thương tích thể hiện bản chất của bị cáo là côn đồ, đây là tình tiết tăng nặng “phạm tội có tính chất côn đồ” theo điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bà nội của bị cáo được tặng thưởng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.
Đối với Đặng Tuấn Kh, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng đã được giải quyết theo Bản án số 212/2020/HSST ngày 27/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.
Đối với hai đối tượng tên Bi và Thắng đi cùng bị cáo hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xử lý.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Đặng Tuấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Đặng Tuấn A 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2022.
2. Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Thi |