vanban.org

Bản án 115/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 31/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: 1. Về điều luật: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, n, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Kim C phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁNNHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2023/HS-ST
Ngày: 31 - 10 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Văn

Bà Dương Thị Hồng Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2023/HSST-QĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1990 tại Nghệ An; tên gọi khác: Không; nơi ĐKNKTT: Thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại: Thôn M, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu A, sinh năm: 1968 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1969 anh chị em ruột: Có 03 người, C là con đầu trong gia đình; chồng: Nguyễn Tiến T, sinh năm: 1989 (đã lý hôn năm 2017), con: Có 04 người con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/7/2023 đến nay tại xã B, thành phố Đ, Quảng Bình. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Chị Trần Thị Kim L, sinh năm: 1980; địa chỉ: Tổ dân phố I, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Hà Xuân T1, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ dân phố E, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn H, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

3. Ông Nguyễn Kiến G, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

4. Chị Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn A H, xã L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

5. Ông Đặng Văn K, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

6. Chị Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm 1990; địa chỉ: Số B đường N, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước với chị Trần Thị Kim L, khoảng 8h30 ngày 24/4/2023, Nguyễn Thị Kim C thuê lái xe taxi Nguyễn Thanh T2 chở đến Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên Thành phố Đ. Sau khi hỏi được phòng làm việc của chị Trần Thị Kim L ở phòng Kế toán - Thủ quỹ, C đi đến phòng thấy chị L đang ngồi ở bàn làm việc. Chi dùng tay đánh chị L, túm tóc và kéo ra trước cửa phòng, đè đầu chị L xuống, sử dụng điện thoại di động Iphone 13 Promax của mình đánh vào đầu chị L làm bị thương ở đỉnh đầu. Lúc này, anh Nguyễn Kiến G là giáo viên của Trung tâm chạy đến can ngăn, kéo C ra. Chi và T2 rời khỏi Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên Thành phố Đ. Chị L được đưa đi cấp cứu taị Bệnh viện Đa khoa Thành phố Đ.

Hậu quả: Chị L bị thương với các vết thương như sau: 01 vết thương đỉnh đầu phải hiện tại để lại sẹo kích thước 4,5x0,1cm; 01 vết rách da đỉnh đầu phải hiện tại không để lại sẹo tích và di chứng; 01 vết thương rách da ở đỉnh đầu hiện tại không để lại sẹo tích và di chứng; 01 vết sưng ở giữa đỉnh đầu hiện tại không để lại sẹo tích và di chứng; 01 vết xước da không rõ hình dạng ở giữa đỉnh đầu hiện tại không để lại sẹo tích và di chứng; 01 vết sưng phù nề kích thước 3x4cm ở mặt ngoài cổ chân phải do chấn thương trong lúc bị kéo lê.

Tại kết luận giám định số 89/KLTTCT-TTGĐTK-PY ngày 06/6/2023 của Trung tâm G1 xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Thị Kim L tại thời điểm giám định là 01%. Vật gây thương tích: Thương tích vùng đầu bên phải để lại sẹo kích thước 4,5x0,1cm, do đã cắt lọc mép thương, khâu vết thương; hiện tại các vết thương đã liền sẹo nên không có cơ sở trả lời vật gây thương tích. Các thương tích còn lại do vật tày gây ra.

Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, số IMEI 359978123911897; số IMEI2 359978123947867. Máy đã qua sử dụng bị vỡ mặt kính cường lực.

Trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Kim L yêu cầu Nguyễn Thị Kim C bồi thường tổng cộng 59.183.000 đồng. Bao gồm: Tiền thuê xe đi cấp cứu: 550.000 đồng; tiền chi phí thuốc và khám chữa bệnh: 7.907.000 đồng; tiền thu nhập bị mất do nghỉ việc: 2.226.000 đồng; tiền công trả người nuôi dưỡng: 2.100.000 đồng; tiền bù đắp tổn thất về tinh thần: 46.400.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKSĐH-TA ngày 09 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim C về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo Nguyễn Thị Kim C đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX, xét xử bị cáo đúng như toàn bộ nội dung bản cáo trạng: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thị Kim C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại; bị cáo hiện đang có thai. Vì vậy được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, n, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, n, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim C từ 06 (S) đến 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.

Do bị cáo hiện nay đang nuôi con nhỏ và đang mang thai, không có công việc ổn định. Nên đề nghị miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

* Vật chứng vụ án:

Áp dụng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, số IMEI 359978123911897; số IMEI2 359978123947867. Máy đã qua sử dụng bị vỡ mặt kính cường lực.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo Nguyễn Thị Kim C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương để có điều kiện nuôi con nhỏ và chuẩn bị sinh con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tư cách tham gia tố tụng và sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại (bị hại đã có đơn xin xét xử vắng mặt) và một số người làm chứng, nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Thị Kim C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của bị hại, người làm chứng cũng như phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi và tranh tụng công khai tại phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Do có mẫu thuẫn từ trước, ngày 24/4/2023 tại phòng Kế toán – Thủ quỹ của Trung Tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên thành phố Đ, Nguyễn Thị Kim C đã sử dụng vật cứng là điện thoại di động Iphone 13 Promax màu vàng đập vào đầu gây thương tích cho chị Trần Thị Kim L bị thương tích, chảy máu. Kết luận giám định thương tích của chị L là 1% (Một phần trăm), vết thương do vật tày gây nên.

Vì vậy, hành vi của Nguyễn Thị Kim C đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi và nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Thị Kim C là người trưởng thành, có nhận thức pháp luật. Vì mâu thuẫn không đáng có, bị cáo không chọn cách hòa giải mà có hành vi đánh gây thương tích đối với người khác. Hành vi của bị cáo cho thấy bản tính nóng nảy, thiếu kiềm chế cảm xúc của bản thân. Nên cần thiết phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để mang tính răn đe, giáo dục nói chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thị Kim C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại; bị cáo hiện đang có thai. Vì vậy được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, n, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận xét trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thị Kim C có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là phụ nữ hiện đang mang thai, các con bị cáo đều còn nhỏ cần sự chăm sóc, giáo dục của người mẹ. Bị cáo có đủ điều kiện được rèn luyện, cải tạo tại địa phương nên chưa cần thiết buộc phải chấp hành hình phạt tù cách ly ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự, xét xử bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo về chính quyền địa phương phối hợp gia đình theo dõi, giám sát cũng đủ tính răn đe, giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo vừa cải tạo vừa lao động để chăm lo, nuôi sống bản thân và gia đình. Hiện nay bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Thị Kim C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra chị Trần Thị Kim L yêu cầu Nguyễn Thị Kim C bồi thường tổng cộng 59.183.000 đồng. Bao gồm: Tiền thuê xe đi cấp cứu: 550.000 đồng; tiền chi phí thuốc và khám chữa bệnh: 7.907.000 đồng; tiền thu nhập bị mất do nghỉ việc: 2.226.000 đồng; tiền công trả người nuôi dưỡng: 2.100.000 đồng; tiền bù đắp tổn thất về tinh thần: 46.400.000 đồng. Vào ngày 19/10/2023 bị cáo Nguyễn Thị Kim C đã bồi thường đầy đủ số tiền 59.183.000 đồng cho chị L, chị L đã nhận đủ số tiền trên và cam kết không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự. Nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Đối với vật chứng đang tạm giữ được xác định là phương tiện bị cáo Nguyễn Thị Kim C sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, số IMEI 359978123911897; số IMEI2 359978123947867. Máy đã qua sử dụng bị vỡ mặt kính cường lực.

Những vấn đề khác:

Trong vụ án có anh Nguyễn Thanh T2 là người chở Nguyễn Thị Kim C khi đến gặp chị Trần Thị Kim L, nhưng anh T2 không biết mục đích của C, không tham gia đánh chị L nên không bị xử lý.

Quá trình điều tra xác định Nguyễn Thị Kim C đến Trung tâm G2 thường xuyên thành phố Đ đánh gây thương tích cho chị Trần Thị Kim L. Tuy nhiên sự việc xảy ra trong thời gian ngắn, chưa làm gián đoạn đến hoạt động dạy học của Trung tâm, chưa đến mức gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh Gây rối trật tự công cộng. Tại phiên tòa cũng cần nhắc nhở rút kinh nghiệm.

Án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Bị cáo Nguyễn Thị Kim C phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

2.1. Về điều luật: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, n, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim C 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, số IMEI 359978123911897; số IMEI2 359978123947867. Máy đã qua sử dụng bị vỡ mặt kính cường lực.

(Vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/10/2023, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới).

5. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim C phải chịu nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

6. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/10/2023) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ