vanban.org

Bản án 115/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Thành N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Thành N: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2023. Buộc bị cáo Phan Thành N bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Phan Thành N phạm tội: “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thành N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2023/HS-ST
Ngày 08-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Dương

2. Bà Lê Thị Hoàng Liễu

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Pháp - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2023/TLST-HS, ngày 08 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Thành N; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: D7/208 ấp 4, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn T và bà Võ Thị Phương T; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Ngày 13/11/2020, Phan Thành N bị Toàn án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 81/2020/HS-ST. Ngày 26/11/2021, N đã chấp hành xong án phạt tù tại Trại giam An Phước. Qua xác minh, N đã nộp xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 13/12/2018, Phan Thành N bị Toàn án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 552/2018/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 29/12/2019, được Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức cấp giấy chứng nhận số 543/GCN-CSPĐ về việc chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp Xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Ngày 30/11/2022, Phan Thành N bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 392/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 11/4/2023, Cơ sở cai nghiện ma túy Đức Hạnh ra quyết định số 103/QĐ-CSĐH tạm thời đưa người ra khỏi cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2023. (có mặt)

Bị hại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 2000; Nơi cư trú: C5/22C, Khu phố 3, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1987 – Chủ Hộ kinh doanh dịch vụ Cầm đồ Đ; Nơi cư trú: đường A, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 25/9/2022, Nh (không rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave (không rõ biển số) chở Phan Thành N lưu thông trên đường Đ, khi đi đến trước cửa hàng Winmart địa chỉ: C10/21 Đinh Đức Thiện, Ấp 3, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen trắng, biển số 59N3-207.15 đang để trước cửa hàng Winmart không người trông coi. Lúc này trời đang mưa lớn nên Nh nói N “xe không có ai trông coi, mày xuống lấy đi”, N đồng ý. Nh điều khiển xe mô tô đi lên phía trước khoảng 20m đứng cảnh giới, N đi bộ lại chỗ xe mô tô biển số 59N3-207.15, lấy cây đoản tự chế để sẵn trong người ra bẻ khóa, dắt xe ra, đề máy và điều khiển xe mô tô biển số 59N3-207.15 đi về hướng quận Bình Tân, Nh điều khiển xe mô tô đi theo sau. Cả hai đi đến tiệm cầm đồ Đức Tạo, địa chỉ: 367 An Dương Vương, Phường 10, Quận 6, Nh cầm 01 điện thoại di động của Nh được 1.000.000 đồng. Sau đó, về nhà Nh ở xã Tân Quý Tây, huyện Bình Chánh (không rõ địa chỉ) để cất xe. Ngày 28/9/2022, N đến nhà Nh lấy xe mô tô biển số 59N3-207.15 để đi lại, đến tối cùng ngày, N đem xe đến tiệm cầm đồ Đức Tạo cầm được 5.000.000 đồng, N và Nh chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Bị mất xe mô tô biển số 59N3-207.15, ông Nguyễn Văn T đến Công an xã Bình Chánh trình báo. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh điều tra xử lý.

Ngày 30/9/2022, Công an xã Tân Quý Tây phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an huyện Bình Chánh kiểm tra hành chính nhà nghỉ Thúy Hằng địa chỉ: Tổ 14, Ấp 2, xã Tân Quý Tây, huyện Bình Chánh phát hiện đối tượng Phan Thành N nên bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Phan Thành N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tang vật thu giữ, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Bản kết luận định giá tài sản số 3792/KL-HĐĐGTS ngày 23/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Chánh kết luận: 01 xe mô tô biển số 59N3-207.15 nhãn hiệu Honda Wave trị giá 15.080.000 đồng.

Cáo trạng số 119/CT-VKSBC ngày 05/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phan Thành N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo không tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù; Về dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo N có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền 15.000.000 đồng. Về vật chứng: Lưu kèm hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu ghi hình vụ trộm cắp tài sản do bị cáo Phan Thành N thực hiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 25/9/2022, Nh (không rõ lai lịch) và N có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô biển số 59N3-207.15 nhãn hiệu Honda Wave trị giá 15.080.000 đồng của Nguyễn Văn T tại trước cửa hàng Winmart địa chỉ: C10/21 Đinh Đức Thiện, Ấp 3, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh rồi cầm xe tại tiệm cầm đồ Đức Tạo ở Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh được số tiền 5.000.000 đồng. N và Nh chia nhau tiêu xài hết, sau đó N bị phát hiện bắt giữ. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Phan Thành N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có nhân thân xấu, hai lần bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Đối với tên Nh do không xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh tiếp tục truy tìm xử lý sau.

Bị cáo Phan Thành N khai đem xe mô tô biển số 59N3-207.15 nhãn hiệu Honda Wave đến tiệm cầm đồ Đ cầm được 5.000.000 đồng. Qua điều tra, Bùi Văn T (quản lý tiệm cầm đồ Đ) khai không nhận cầm xe mô tô biển số 59N3-207.15 và qua kiểm tra trong kho của cửa hàng không có xe mô tô trên. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác thể hiện bị cáo có cầm xe tại tiệm cầm đồ Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh không có căn cứ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo N bồi thường thiệt hại đối với 01 (một) xe mô tô biển số 59N3-207.15 nhãn hiệu Honda Wave của ông T chưa thu hồi được với trị giá 15.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông T. Xét đây là sự tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo N có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền 15.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 USB bên trong có dữ liệu ghi lại hình ảnh sự việc trộm cắp tài sản. Dữ liệu điện tử này tiếp tục lưu cùng hồ sơ vụ án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Thành N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Phan Thành N: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2023.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 357; Điều 468; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Phan Thành N bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án, còn phải chịu thêm khoản tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả

4. Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phan Thành N chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 (Bảy trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo Phan Thành N có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ