- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim L. Cho chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với anh Đặng Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25-12-2023 V/v “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hằng Ni.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Tánh.
Ông Nguyễn Tiến Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Lộc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Vào ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý: 188/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 88/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1987 (xin vắng mặt).
Địachỉ: Ấp5,xãZ, huyệnCai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn N, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địachỉ: Ấp T,xãR,thịxã Cai Lậy, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L trình bày: Chị và Đặng Văn N tổ chức lễ cưới vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Z, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống với nhau tại ấp T, xã R, thị xã Cai Lậy, Tiền Giang nhưng chỉ được một năm thì hai vợ chồng cùng về nhà cha mẹ của chị ở xã Z sinh sống để thuận tiện cho việc mua bán. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, anh N không biết quan tâm chia sẻ những khó khăn với chị trong cuộc sống mà còn gây nợ nần nên thường xuyên cãi vả làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân nhau hơn 02 năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Vào tháng 5/2023 chị đã nộp đơn ly hôn với anh Đặng Văn N tại tòa, anh N có hứa sẽ thay đổi nên chị đã rút đơn và Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, anh N vẫn không thay đổi làm cho cuộc sống hôn nhân ngày càng lạnh nhạt. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể nào hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Cho chị được ly hôn với anh N.
Về con chung: Có 01 con chung tên Đặng K, sinh ngày 24/7/2009. Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung – nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Bị đơn anh Đặng Văn N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến phản bác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định đây là vụ án tranh chấp về ly hôn và nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vụ án vắng mặt, bị đơn anh Đặng Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để xét xử nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Nguyễn Thị Kim L với anh Đặng Văn N kết hôn trên cơ sở tự N, được Ủy ban nhân dân xã Z, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 33 vào ngày 27/3/2009 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, xét thấy quan hệ vợ chồng giữa chị L với anh N đã thật sự đổ vỡ, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Bởi lẽ, theo chị L trình bày vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn và anh chị đã sống ly thân hơn 02 năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Vào tháng 5/2023 chị đã nộp đơn ly hôn với anh Đặng Văn N tại tòa, anh N có hứa sẽ thay đổi nên chị đã rút đơn và Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án theo quyết định số: 29/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2023. Riêng đối với anh Đặng Văn N, từ khi được Tòa án thông báo về việc chị L yêu cầu ly hôn, anh vẫn bỏ mặc không có ý kiến gì, chứng tỏ anh không còn quan tâm đến tình cảm vợ chồng với chị L nữa. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị L với anh N thật sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim L trình bày quá trình chung
sống vợ chồng có một con chung tên Đặng K, sinh ngày 24/7/2009, hiện đang sống với chị L. Ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, từ khi chị L và anh N sống ly thân thì con chung do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, có cuộc sống ổn định, sức khỏe tốt. Mặt khác, tại bản tự khai cháu K cũng có N vọng được sống chung với chị L khi cha mẹ ly hôn. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định về thể chất, sự phát triển về tinh thần, cũng như các quyền lợi khác của con chung nên tiếp tục giao con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Kim L yêu cầu anh Đặng Văn N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, cho đến khi con đủ 18 tuổi. Xét thấy, anh Đặng Văn N không trực tiếp nuôi con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ vào điều kiện cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu để cháu Đặng K được phát triển bình thường cần buộc anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim L trình bày tự thỏa thuận còn anh Đặng Văn N vắng mặt nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và anh Đặng Văn N phải chịu án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim L. Cho chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với anh Đặng Văn N.
2. Về con: Giao con chung tên Đặng K, sinh ngày 24/7/2009 cho chị Nguyễn Thị Kim L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Buộc anh Đặng Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đặng K mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Khang đủ 18 tuổi.
Anh Đặng Văn N có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở theo luật định.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0018743 ngày 12/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên xem như đã thi hành xong.
Anh Đặng Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự N thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nôi nhaän:
| - TAND tænh Tieàn Giang; - VKSNDTXCai Lậy; - CCTHADSTXCai Lậy; - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Löu. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa Dương Thị Hằng Ni |