- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diễm H, chị H được ly hôn với anh Lê Chí T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07-7-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Bi.
Ông Đỗ Viết Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 54/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm H, sinh năm 1992 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Lê Chí T, sinh năm 1992 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị H và anh Lê Chí T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại Ủy ban nhân dân Tân Thạnh, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hoà thuận đến năm 2020 và có với nhau 01 con chung là cháu Lê Nguyễn Ngọc Mẫn N, sinh ngày 24/4/2020. Sau khi có con chung giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vấn đề tiền bạc trong gia đình, nợ nần và anh T chỉ lo ăn chơi, không chăm lo gia đình, vợ con. Anh T hứa thay đổi nhưng không có kết quả, vợ chồng mâu thuẫn ngày càng nhiều hơn. Nhận thấy tình trạng hôn nhân không thể hàn gắn được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là cháu Lê Nguyễn Ngọc Mẫn N, sinh ngày 24/4/2020. Hiện tại cháu N đang sống chung với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu N mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, chị H không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Lê Chí T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, chưa gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh T vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm H yêu cầu ly hôn với anh Lê Chí T và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên đây là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh T có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Xét thấy nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm H có yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn anh Lê Chí T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh T.
Về hôn nhân: Chị H và anh T chung sống trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Tân Thạnh, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 03 ngày 18/02/2019 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình chung sống, chị H trình bày giữa chị và anh T xảy ra mâu thuẫn kéo dài không tự hàn gắn được nên chị H yêu cầu được ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ, Tòa án triệu tập anh T để trình bày ý kiến và tham gia phiên hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm giữa hai bên nhưng anh T đều vắng mặt. Điều đó cho thấy anh T không phản đối yêu cầu của chị H, không có thiện chí và nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy, giữa anh T và chị H không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nên cần xác định tình trạng mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là cháu Lê Nguyễn Ngọc Mẫn N, sinh ngày 24/4/2020. Hiện tại cháu N đang sống chung với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Anh T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, chưa thể hiện ý kiến về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, để tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cháu N nên cần thiết giao cháu cho chị H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và anh T được quyền thăm nom con theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu N với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 1.500.000 đồng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy, anh T không trực tiếp nuôi con nên có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, đồng thời mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng mà chị H yêu cầu là phù hợp với quy định tại Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày anh chị không có tài sản chung và nợ chung anh chị sẽ tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn, anh T phải chịu án phí không có giá ngạch đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diễm H, chị H được ly hôn với anh Lê Chí T.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn Ngọc Mẫn N, sinh ngày 24/4/2020 cho chị Nguyễn Thị Diễm H trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Lê Chí T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N định kỳ hàng tháng. Mức cấp dưỡng mỗi tháng là 1.500.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu thực hiện từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, lao động được.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm thực hiện thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền, mức lãi suất được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Diễm H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008530 ngày 17/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông, nên chị H đã nộp xong án phí.
Anh Lê Chí T phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
4. Về quyền kháng cáo: Chị H, anh T vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
5. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Tân Phú Đông; - Chi cục THADS huyện Tân Phú Đông; - UBND xã Tân Thạnh; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thơm |