- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:115/2023/HNGĐ-ST Ngày: 04 - 7 - 2023 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Quyến;
2. Ông Bùi Văn Phục.
-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2023/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2023/QĐXXST-HN, ngày 26 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1985.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Trần Bá L, sinh năm 1983.
Địa chỉ: ấp M, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Nguyễn Thị T (Sau đây gọi chị T) trình bày:
Giữa chị và bị đơn Trần Bá L (Sau đây gọi anh L) qua tìm hiểu nhau mà tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2005, có đăng ký kết hôn. Trong quá trình sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên hay cãi vã nhau, chồng chị đi làm xa nhưng không gởi tiền về nuôi con và cũng không lo lắng gì đến gia đình, chị nghi ngờ chồng chị có tình cảm với người phụ nữ khác, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, nhiều lần hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không đoàn tụ được nên đã sống ly thân từ đầu năm 2023. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
-Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh L.
-Về con chung: Có hai người con chung tên: Trần Bá H (Nam), sinh ngày 16 tháng 01 năm 2006 và cháu Trần Thị Ngọc D (Nữ), sinh ngày 17 tháng 11 năm 2007. Từ khi ly thân đến nay thì các con do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, chưa yêu cầu chồng chị cấp dưỡng.
Về nợ chung không có, tài sản chung để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Quá trình tố tụng Trần Bá L vắng mặt nên không có lời trình bày:
Tại các bản tự khai ngày 05 tháng 5 năm 2023 các cháu H và D trình bày (Có sự chứng kiến của chị T): Từ trước dến nay các cháu sống với mẹ. Khi cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn; giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng. Bị đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Về nợ và tài sản chung, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là Tranh chấp ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Về thủ tục tố tụng: Trần Bá Lg được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, vắng mặt không lý do nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với đương sự này.
Xét về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh L qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2005, có đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 5 năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T: Chị và anh L trong thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm sống mà không có giải pháp khắc phục để hoà giải hàn gắn tình cảm mà chọn cách sống ly thân, xét thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm lo lắng cho ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa án tạo điều kiện để anh chị được đoàn tụ nhưng anh L vắng mặt tại phiên tòa không lý do, chứng tỏ rằng anh cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Trong khi đó, chị T xác định là không còn tình cảm vợ chồng với anh L và cương quyết xin ly hôn. Từ đó, thấy rằng hôn nhân giữa hai người đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tiếm.
Về con chung: Có hai người con chung, khi ly thân đến nay, các cháu do chị T nuôi dưỡng, cả hai cháu đều có nguyên vọng được sống với mẹ. Chị T có yêu cầu nuôi con, nhằm tránh gây xáo trộn đời sống của các cháu, cần tiếp tục giao cả hai cháu H và D cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị T, anh L có yêu cầu khác.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị T chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh L mà không ai có quyền cản trở.
Về nợ và tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ chấp nhận;
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Bá L.
2. Về nuôi con chung: Giao các cháu Trần Bá H (Nam), sinh ngày 16 tháng 01 năm 2006 và cháu Trần Thị Ngọc D (Nữ), sinh ngày 17 tháng 11 năm 2007 cho chị Nguyễn Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị T, anh L có yêu cầu khác.
Trần Bá L chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh L mà không ai có quyền cản trở.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002915, ngày 06 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không phải nộp thêm.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HG; - VKSND huyện PH; - THADS huyện PH; -UBND xã T, h.P, t.Hậu Giang; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Liêm |