- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Vũ Thị Ng xin ly hôn anh Vũ Văn Th"
- Tòa quyết gì? 1 - Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị Ng và anh Vũ Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2023/HNGĐ - ST Ngày: 28 - 7- 2023. V/v ly hôn giữa chị Ng và anh Th. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hùng Phương.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đức Chạc.
2. Ông Vũ Mạnh Toàn.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2023/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/QĐST – HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Ng, sinh năm 1982;
Nơi ĐKHKTT: Số 453/70/62 khu phố 5, phường H, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: Số 99/36B, tổ 5, khu phố 6, phường Th, quận 12, TP. Hồ Chí Minh.
* Bị đơn: Anh Vũ Văn Th, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Đội 14, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa có mặt chị Ng, vắng mặt anh Th.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện lập ngày 14/3/2023 cũng như lời khai nguyên đơn chị Vũ Thị Ng tại phiên tòa thể hiện: Chị kết hôn với anh Vũ Văn Th vào tháng 08/2012 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân vì vậy vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng thường xuyên cãi chửi nhau. Đến tháng 6/2020 thì vợ chồng chị sống ly thân đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh Th không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện N xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn Th.
Về con chung: Chị Vũ Thị Ng xác định giữa chị và anh Th có một con chung là cháu Vũ Hoàng N, sinh ngày 04/8/2013 (Hiện cháu N đang do chị chăm sóc nuôi dưỡng). Ly hôn chị xin nhận nuôi cháu N và không yêu cầu anh Th phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung: Chị Vũ Thị Ng không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí chị Vũ Thị Ng đề nghị giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Vũ Văn Th vắng mặt nhưng anh Th có đơn xin giải quyết vắng mặt. Lời khai của anh Vũ Văn Th trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Anh kết hôn với chị Vũ Thị Ng vào tháng 8/2012 kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đã không hạnh phúc, đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng anh sống ly thân từ cuối năm 2019 cho đến nay. Nay chị Ng xin ly hôn anh thì anh không nhất trí ly hôn vì gia đình anh là gia đình công giáo.
Về con chung: Anh Vũ Văn Th xác định giữa anh và chị Ng có một con chung là cháu Vũ Hoàng N, sinh ngày 04/8/2013 (Hiện cháu N đang do chị Ng chăm sóc nuôi dưỡng). Nếu vợ chồng phải ly hôn thì anh xin nhận trực tiếp nuôi cháu N và không yêu cầu chị Ng phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Nếu chị Ng được quyền nuôi con thì anh có trách nhiệm của anh.
Về tài sản chung: Anh Vũ Văn Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị Ng và chị Vũ Văn Th; Về con chung: Giao cháu Vũ Hoàng N, sinh ngày 04/8/2013 cho chị Vũ Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Th không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Ng; Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Ng phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Vũ Văn Th hiện đang cư trú tại xã N, huyện N. Nay chị Vũ Thị Ng xin ly hôn anh Vũ Văn Th, Tòa án nhân dân huyện N thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay anh Vũ Văn Th vắng mặt nhưng anh Th có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Th là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Vũ Thị Ng và anh Vũ Văn Th vào tháng 8 năm 2012 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chống bất đồng về quan điểm sống không hiểu nhau từ đó dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau. Đến tháng 6/2020 thì vợ chồng chị Ng anh Th sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị Ng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện N giải quyết vợ chồng được ly hôn. Phía anh Th không nhất trí ly hôn vì là gia đình công giáo. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị xử ly hôn giữa chị Ng và anh Th.
Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ng và anh Th đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, mặt khác trong quá trình vợ chồng ly thân hai bên không ai quan tâm đến ai do vậy khả năng đoàn tụ giữa vợ chồng chị Ng và anh Th không còn, nay chị Ng xin ly hôn anh Th xét thấy có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét việc anh Th không nhất trí ly hôn vì là gia đình công giáo thấy khả năng đoàn tụ vợ chồng giữa anh Th với chị Ng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên không được chấp nhận.
Về con chung: Chị Vũ Thị Ng và anh Vũ Văn Th đều thống nhất xác định vợ chồng có một con chung là cháu Vũ Hoàng N, sinh ngày 04/8/2013 (Hiện cháu N đang do chị Ng chăm sóc nuôi dưỡng). Ly hôn chị Ng xin nhận nuôi cháu N và không yêu cầu anh Th phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Phía anh Th xin nhận trực tiếp nuôi cháu N và không yêu cầu chị Ng phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Nếu chị Ng được quyền nuôi con thì anh có trách nhiệm của anh.
Hội đồng xét xử thấy: Nguyện vọng của chị Ng và anh Th về việc chăm sóc con chung là chình đáng nhưng hiện cháu N đang do chị Ng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng kể từ khi vợ chồng ly thân đến nay. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án cháu N có đơn xin ở với mẹ. Vì vậy, nên giao cháu N cho chị Ng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chị Ng không yêu cầu anh Th phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận.
Về tài sản chung vợ chồng: Chị Vũ Thị Ng và anh Vũ Văn Th đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm chị Vũ Thị Ng phải nộp theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
1 - Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị Ng và anh Vũ Văn Th.
2 - Về con chung: Xử giao con chung của vợ chồng là cháu Vũ Hoàng N, sinh ngày 04/8/2013 cho chị Vũ Thị Ng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Th không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Ng. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.
3 - Án phí dân sự sơ thẩm chị Vũ Thị Ng phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Ng đã nộp theo biên lai số 0000940 ngày 05/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N, chị Ng đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - Các đương sự; - UBND xã N; - UBND phường H, quận 12, TP Hồ Chí Minh; - Lưu văn phòng; HSVA. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Hùng Phƣơng |