vanban.org

Bản án 115/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Thúy K - Thạch Sà K1"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2023/HNGĐ-ST
Ngày 09 tháng 11 năm 2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Liêu Tài Ngoánh

Ông Huỳnh Tài Em

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên

tòa: Ông Trần Trung Kiên – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ

thẩm công khai vụ án thụ lý số: 286/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2023/QĐXX-ST ngày 23 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lâm Thúy K - sinh năm 1993

Địa chỉ: Ấp Kh, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau

Bị đơn: Anh Thạch Sà K1 - sinh năm 1987

Địa chỉ: Ấp V, xã V1, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị K, anh K1 có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/7/2023 và các lời khai trong quá trình tố

tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Lâm Thúy K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh K1 tự nguyện chung sống với nhau như vợ

chồng từ năm 2018 tại ấp V, xã V1, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau vào ngày 29/11/2019. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp tính tình. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay chị K yêu cầu ly hôn với anh K1.

Về con chung: Có 02 con chung tên Thạch Lâm Bảo Y, sinh ngày

17/01/2019, Thạch Lâm Bảo H, sinh ngày 17/02/2021 hiện cả 02 con đang sống với anh K1. Sau khi ly hôn chị K tự nguyên giao 02 con chung cho anh Thạch Sà K1 tiếp tục nuôi dưỡng, về cấp dưỡng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Thạch Sà K1, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt

các văn bản tố tụng cho anh K1 theo quy định, anh K1 đã trực tiếp nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh K1 không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cho anh K1; anh K1 cũng không có mặt tham gia tố tụng tại Tòa trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt; anh K1 đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có mặt tại Tòa án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Xét thấy, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của

chị Lâm Thúy K, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K đối với anh K1. Về con chung, đề nghị giao 02 con chung tên Thạch Lâm Bảo Y, sinh ngày 17/01/2019, Thạch Lâm Bảo H, sinh ngày 17/02/2021 cho anh K1 tiếp tục nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng: tự thỏa thuận nên không đặt ra giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung không có và không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem

xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận:

Về tố tụng:

Chị K yêu cầu ly hôn với anh K1, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và

gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh K1 cư trú tại xã V1, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện H thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị K và anh K1 có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1

Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị K, anh K1.

Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị K và anh K1 tự nguyện chung sống với nhau

như vợ chồng vào năm 2018 tại ấp V, xã V1, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau vào ngày 29/11/2019 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Theo chị K, nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do không hợp lối

sống, bất đồng quan điểm, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022 đến nay, nay chị K xác định không còn tình cảm với anh K1 nữa nên cương quyết yêu cầu ly hôn. Tòa án đã tống đạt trực tiếp thông báo thụ lý vụ án cho anh K1 nhưng anh K1 không quan tâm, quá trình giải quyết vụ án anh K1 không lần nào đến Tòa án làm việc và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị K. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau và cùng nhau chăm sóc gia đình nhưng nay chị K cương quyết xin ly hôn với anh K1 mà anh K1 không có thiện chí hòa giải cũng không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ sự mâu thuẫn, rạn nứt trong quan hệ hôn nhân của anh chị không có khả năng hàn gắn lại được. Mặt khác, hôn nhân được duy trì bền vững lâu dài và hạnh phúc là trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, chị K yêu cầu được ly hôn và xác định không thể tiếp tục chung sống với anh K1 thì việc chung sống không được tự nguyện cũng sẽ dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K, cho chị K được ly hôn với anh K1.

[2] Về con chung: Chị K và anh K1 quá trình chung sống có 02 con chung

tên Thạch Lâm Bảo Yến, sinh ngày 17/01/2019, Thạch Lâm Bảo Hân, sinh ngày 17/02/2021. Ngoài ra, chị K và anh K1 không còn con chung nào khác, hiện tại cháu Yến và cháu Hân đang ở chung với anh K1. Sau khi ly hôn chị K tự nguyện giao cả 02 con chung cho anh K1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Y và cháu H chưa đủ 07 tuổi hiện nay cả 02

cháu đều đang sống cùng anh K1, chị K tự nguyện giao cả 02 con chung là cháu Y và cháu H cho anh K1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, anh K1 koong có ý kiến gì về vấn đề này. Do đó để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm sinh lý cho cháu Yến và cháu Hân trong việc ăn uống, sinh hoat và học tập, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị K giao cháu Y và cháu H cho anh K1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Từ những phân tích trên, có căn cứ ghi nhận sự tự nguyện của chị K, giao

cháu Thạch Lâm Bảo Y, sinh ngày 17/01/2019, Thạch Lâm Bảo H, sinh ngày 17/02/2021 cho anh K1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cị Lâm Thúy K có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra

xem xét, giải quyết.

[3] Về tài sản chung: Chị K xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem

xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Chị K xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải

quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lâm Thúy K

phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Từ các phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp

nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1

Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Khoản 1 Điều 53, Điều 56; Điều 81 và Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia

đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị

Lâm Thúy K đối với anh Thạch Sà K1. Xử cho chị Lâm Thúy K được ly hôn với anh Thạch Sà K1.

2. Về con chung: Giao cháu Thạch Lâm Bảo Y, sinh ngày 17/01/2019 và cháu

Thạch Lâm Bảo H, sinh ngày 17/02/2021 cho anh Thạch Sà K1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Lâm Thúy K có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải

quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Lâm Thúy K phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình

sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị K đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004908 ngày 04/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H được chuyển thu án phí.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi

hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản

án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ