- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiều - Nghĩa"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mộng K. Chị Nguyễn Thị Mộng K được ly hôn với anh Trương Trung N. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 03/KH ngày 06/01/2022 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu…
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:115/2023/HNGĐ - ST Ngày: 31/7/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lựu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Trung
2. Bà Võ Thị Hiền
- Thư ký phiên toà: Ông Trương Hữu Lộc – Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hiển – Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bxét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2023/TLST - HNGĐ ngày 19/4/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2023/QĐST – HNGĐ ngày 22/6/2023 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 79/2023/QĐST – HNGĐ ngày 22/6/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mộng K, sinh năm 1994 (có mặt).
Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Anh Trương Trung N, sinh năm 1996 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số I khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Mộng K trình bày:
Chị và Anh Trương Trung N cưới nhau năm 2021 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 11/01/2022. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến ngày 25/02/2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh N thường xuyên chơi game qua mạng, không lo làm ăn. Nay chị nhận thấy hôn nhân của chị và anh N không có hạnh phúc, chị không còn tình cảm vợ chồng với anh N, không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với anh N nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh N có một con chung là cháu Trương Gia L, sinh ngày 26/10/2022, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung; chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Trương Trung N vắng mặt tại tất cả các lần hòa giải cũng như xét xử nên không có lời trình bày:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bphát biểu quan điểm:
- Về thủ tục: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Hội đồng xét xử và Thư ký tại tòa đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS; riêng bị đơn vắng mặt là không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Tại phiên tòa, nhận thấy thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan độc lập khi xét xử. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, tuyên xử:
+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của Chị Nguyễn Thị Mộng K; chị K được ly hôn với anh Trương Trung N.
+ Về con chung: Giao con chung là cháu Trương Gia L, sinh ngày 26/10/2022 cho chị K nuôi dưỡng. Ghi nhận chị K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Không có nên không xét đến.
+ Về nợ chung: chị K trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Trương Trung N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ vào các Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị K và anh N cưới nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 06/01/2022 nên là hôn nhân hợp pháp. Do đó, hôn nhân của chị K và anh Nghĩa l hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn đến ngày 25/02/2023 thì mâu thuẫn trầm trọng, anh N không lo làm ăn; thường xuyên cờ bạc; dẫn đến vợ chồng cự cãi, mất dần tình cảm; không còn quan tâm đến nhau. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bđã tạo mọi điều kiện hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng anh N vắng mặt tại các lần hòa giải cũng như xét xử không có lý do. Điều đó thể hiện anh N đã không có thiện chí muốn vợ chồng đoàn tụ. Qua đó, đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị K và anh N đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, chị K yêu cầu ly hôn với anh Nghĩa l có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị K và anh N có một con chung là cháu Trương Gia L, sinh ngày 26/10/2022; hiện cháu Gia L đang sống chung với chị K. Xét yêu cầu nuôi con của chị K. Hội đồng xét xử nhận định: Sau khi vợ chồng chị K anh N mâu thuẫn mỗi người sống một nơi, cháu L sống chung với chị K, chị K chăm sóc con vẫn tốt, đảm bảo đều kiện phát triển về vật chất và tinh thần cho cháu L. Do đó giao cháu L cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị K không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị K trình bày không có nên không xem xét.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Btại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) Chị Nguyễn Thị Mộng K phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mộng K. Chị Nguyễn Thị Mộng K được ly hôn với anh Trương Trung N. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 03/KH ngày 06/01/2022 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mộng K được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trương Gia L, sinh ngày 26/10/2022. Ghi nhận sự tự nguyện của chị K không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Tài sản chung; Nợ chung: chị K trình bày không có nên không xem xét.
4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Nguyễn Thị Mộng K phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004143 ngày 13/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bến Tre. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị K đã nộp xong.
Chị Nguyễn Thị Mộng K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Trương Trung N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Lựu |