vanban.org

Bản án 115/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Nguyễn Võ Ngọc H đối với anh Nguyễn Văn P, cụ thể tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Võ NGọc H-Nguyễn Văn P"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 115/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 21-8-2023
V/v tranh chấp thay đổi người trực
tiếp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thu Hồng

2. Ông Phạm Văn Nam

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thắm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 282/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 330/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023 giữa:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Võ Ngọc H, sinh năm 1988

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp H, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Chỗ ở hiện nay: ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre

2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1980;

Nơi cư trú: ấp A, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Chị H và anh P có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/6/2023 cũng như trong quá trình tố tụng chị Nguyễn Võ Ngọc H trình bày: chị và Nguyễn Văn P đã ly hôn theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 102/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam. Theo nội dung Quyết định anh Nguyễn Văn P trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 13/01/2017, chị trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Chơn T, sinh ngày 01/6/2018, chị và anh P không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị nhận thấy điều kiện nuôi con của anh P không được đảm bảo, anh chỉ cho chị rước con và trả về trong thời gian 01 ngày, nhưng mỗi lần rước rất khó khăn, anh chăm sóc không tốt trong khi bé bị rối loạn phổ tự kỷ điển hình. Nay chị yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con để chị có điều kiện chăm sóc bé tốt hơn và dẫn bé đi chữa bệnh.

Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa anh Nguyễn Văn P trình bày:

Anh thống nhất với chị H về thời gian ly hôn cũng như người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Anh nhận thấy việc anh nuôi con rất tốt, anh thừa nhận cháu N bị rối loạn phổ tự kỷ điển hình, nhưng anh thấy cháu vẫn sinh hoạt bình thường nên anh không có dẫn cháu đi khám bệnh. Hiện tại anh không có đi làm ở nhà chăm sóc mẹ anh bị bệnh nên anh sẽ có thời gian chăm sóc tốt cho con của anh nên anh không đồng ý giao con cho chị H nuôi vì chị H không có nhà riêng, phải sống chung với ông bà ngoại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu quan điểm cho rằng:

- Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng như đương sự nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản liên quan quy định.

- Về nội dung: Áp dụng Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Võ Ngọc H. Buộc anh Nguyễn Văn P giao cháu Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 13/01/2017 cho chị Nguyễn Võ Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào đơn khởi kiện đề ngày 19/6/2023 của chị Nguyễn Võ Ngọc H đối với anh Nguyễn Văn P thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con”. Quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên được quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam.

Anh Nguyễn Văn P có nơi cư trú tại xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam thụ lý đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Chị Nguyễn Võ Ngọc H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 13/01/2017 anh Nguyễn Văn P không đồng ý. Hội đồng xét xử thấy rằng:

+ Xét về điều kiện vật chất: anh Nguyễn Văn P sống chung với gia đình bên nội, chị Nguyễn Võ Ngọc H sống chung với gia đình bên ngoài. Hiện tại anh P nghỉ làm ở nhà chăm sóc mẹ anh bị bệnh, thu nhập hàng tháng của anh từ vườn dừa của mẹ anh và chị em của anh cho thêm; Đối với chị H đang làm việc chính thức tại UBND Phường 7 và một số công ty khác (có xác nhận kèm theo). Do đó, có đủ cơ sở để xác định chị H có thu nhập ổn định hơn anh P.

+ Xét về quá trình chăm sóc con sau khi ly hôn: Anh Nguyễn Văn P trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng N. Từ năm 2020 đến nay cháu N đã bị rối loạn phổ tự kỷ không điển hình, tương tác qua lại kém nhưng anh P lại cho rằng cháu N phát triển bình thường, không dẫn cháu N đi tái khám và cũng không đồng ý để chị H dẫn cháu N đi tái khám theo lời dặn của Bác sĩ. Như vậy, sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển tâm sinh lý của cháu N.

+ Xét về quá trình thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung của chị H sau khi ly hôn: Anh P và chị H đều thống nhất, từ khi ly hôn chị H thường xuyên đến thăm và rước cháu N, nhưng thời gian gần đây anh P không cho bé ở lại nhà ngoại qua đêm để có thời gian chơi cùng em và mẹ nhằm tạo sự gắn bó cần thiết trong tình cảm giữa anh em và mẹ con, đặc biệt đối với một bé bị rối loạn phổ tự kỷ điển hình thì cần phải giao tiếp và gắn bó tình cảm với các thành viên khác trong gia đình nhiều hơn.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng nên giao cháu Nguyễn Hoàng N cho chị Nguyễn Võ Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp hơn anh Nguyễn Văn P.

Về mức cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Nguyễn Võ Ngọc H phải có nghĩa vụ nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ các điều 58, 69, 70, 71, 72, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Nguyễn Võ Ngọc H đối với anh Nguyễn Văn P, cụ thể tuyên:

Buộc anh Nguyễn Văn P phải có nghĩa vụ giao cháu Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 13/01/2017 cho chị Nguyễn Võ Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Anh Nguyễn Văn P được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Nguyễn Võ Ngọc H có nghĩa vụ nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006807 ngày 14/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Cỡ chữ