vanban.org

Bản án 115/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 07/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/02/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh N phạm tội: “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2022/HS-ST
Ngày 07-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thắm;

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh N, sinh năm: 2001 tại tỉnh Cà Mau; hộ khẩu thường trú: Ấp B2, xã HT, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Nhà trọ HP, đường H3, khu phố X, phường TH, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn KN, sinh năm 1960; tiền án: Ngày 21/11/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát,tỉnh Bình Dương xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 217/2019/HS-ST. Ngày 14/02/2020, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng đến nay chưa chấp hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm; tiền sự: Ngày 23/4/2019, bị cáo bị Công an phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đến nay bị cáo chưa chấp hành; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát từ ngày 12/02/2022 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Dương Minh P, sinh năm 1998; hộ khẩu thường trú: Ấp LR, xã ĐTA, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu; tạm trú: Nhà trọ HCR, đường D3 –N4, khu phố Y, phường MP, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/02/2022, Nguyễn Minh N đi bộ đến nhà trọ UN ở cạnh đường D18, thuộc khu phố X, phường TH, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương rủ Huỳnh Vĩnh T (sinh năm 2003, hộ khẩu thường trú: Ấp GB, xã THC, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp) uống rượu. N và T uống rượu đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày thì ngưng, T đi lên gác phòng trọ ngủ, còn N đi bộ về. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, N đi bộ ngang qua nhà trọ PL cạnh đường D17A thuộc khu phố X, phường TH, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario biển số 94B1-561.xx của anh Dương Minh P đang đậu trong hành lang trước phòng trọ số 01, không người trông coi thì nảy sinh ý định lấy trộm. N lén lút đi bộ vào dẫn xe mô tô biển số 94B1-561.xx quay lại nhà trọ UN. Tại đây, N kêu T dậy, nói vừa lấy trộm được xe mô tô biển số 94B1-561.xx và nhờ T cùng đẩy xe đi bẻ khóa. T không đồng ý và bỏ lên gác ngủ. Lúc này, do dẫn bộ xe bị mệt nên N đậu xe mô tô biển số 94B1-561.xx cạnh bàn ghế đá trước nhà trọ UN rồi ngồi nghỉ thì bị anh P đi tìm xe phát hiện báo Công an phường Thới Hòa đến mời N làm việc. Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô Honda Vario màu xanh đen, biển số: 94B1-561.xx; số máy: JM51E1835082; số khung: MH1JM511XMK835735. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.

Theo Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 16/02/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, kết luận: 01 xe mô tô Honda Vario màu xanh đen, biển số: 94B1-561.xx; số máy: JM51E1835082; số khung: MH1JM511XMK835735 trị giá 46.000.000 đồng.

Ngày 22/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả 01 xe mô tô Honda Vario màu xanh đen, biển số 94B1-561.xx; số máy: JM51E1835082; số khung: MH1JM511XMK835735 cho anh Dương Minh P. Anh P không có yêu cầu giải quyết gì thêm.

Quá trình điều tra, Nguyễn Minh N đã khai nhận toàn bộ hành phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 101/CT-VKSBC ngày 31/5/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Minh N về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phần tranh luận:

- Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trình bày luận tội:

+ Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tại Bản Cáo trạng số 101/CT-VKSBC ngày 31/5/2022 đối với bị cáo Nguyễn Minh N về tội: “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

- Bị cáo không bào chữa, không phát biểu ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

- Bị hại Dương Minh P vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra, đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Bị cáo Nguyễn Minh N khai nhận vào khoảng 19 giờ ngày 11/02/2022, tại nhà trọ PL cạnh đường D17A thuộc khu phố X, phường TH, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, lợi dụng sơ hở của bị hại, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô Honda Vario màu xanh đen, biển số: 94B1-561.xx trị giá 46.000.000 đồng.

Lời khai của bị cáo N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với hành vi mà bị cáo đã gây ra.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, qua đó thể hiện ý thức tham lam, liều lĩnh và xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trao trả cho bị hại nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điềm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tiền sự: Ngày 23/4/2019, bị cáo bị Công an phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản đến nay bị cáo chưa chấp hành, do đó cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Minh N là tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào Điều 136, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/02/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Đã giải quyết xong.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ