vanban.org

Bản án 115/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 23/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tu ên bố bị cáo Lâm Phúc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ”.

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụn điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Áp dụn Điều 2, Điều 4, Điều 6 N hị qu ết số 02/2018/NQ-HĐTP n à 15 thán 5 năm 2018 của Hội đồn Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướn dẫn thi hành Điều 65 của Bộ l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo lâm Phúc Thịnh bị xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự - phạm tội lừa đảo chiếm đo…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tu ên bố bị cáo Lâm Phúc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụn hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2022/HS-ST
Ngày: 23-9-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: n N u n h c inh Du

Các Hội thẩm nhân dân:

n N u n Thanh Hoàn ;

n ý Văn Hùn ;

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân hu ện Đức Hòa, tỉnh on An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dươn - iểm sát viên;

Trong ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân hu ện Đức Hòa, tỉnh on An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2022/TLST-ST ngày 22 tháng 02 năm 2022 theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm Phúc T , sinh ngày 13 tháng 4 năm 1984.

Nơi đăn ký hộ khẩu thườn trú: số 516, ấp BT 1, xã ĐHH, hu ện Đ, tỉnh ; Chỗ ở: ấp BT 1, xã ĐHH, hu ện Đ, tỉnh ; N hề n hiệp: không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Lâm Bá R, sinh năm 1942 (chết); Mẹ: ý Thị S, sinh năm 1952 (sốn ); Họ và tên vợ: Phạm Thị Mỹ P, sinh năm 1985 (đã l hôn); Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp n ăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại:

1. Bà N u n Thị Đức H, sinh năm 1960. (có mặt)

Địa chỉ: ấp BT 1, xã ĐHH, hu ện Đ, tỉnh .

2. Ông N u n Văn N, sinh năm 1969. (có mặt)

Địa chỉ: ấp BT 2, xã ĐHH, hu ện Đ, tỉnh .

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dươn Sanh H, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số 123/24, ê Đình T, phườn TQ, quận TP, thành phố H. (có mặt)

- Người làm chứng:

1. Ông Lê Thanh H, sinh năm 1978. (v n mặt)

2. Bà Hồ Thị Thu T, sinh năm 1973. (v n mặt)

3. Ông Bùi Văn T, sinh năm 1970. (v n mặt)

4. Ông N u n Tấn D, sinh năm 1978. (v n mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có tron hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dun vụ án được tóm t t như sau:

Lâm Phúc T làm môi iới mua bán đất nên có quen biết với ôn Lê Thanh H . Ngày 20/5/2019, thông qua ông H nên T ặp và iới thiệu cho ôn Dươn Sanh H nhận chu ển nhượn qu ền sử dụn thửa đất số 173, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp BT 1, xã ĐHH, hu ện Đ, tỉnh của vợ cH bà Hồ Thị Thu T, ông Bùi Văn T. Sau khi hoàn thiện thủ tục nhận chu ển nhượn qu ền sử dụn đất bằn hình thức nhận ủ qu ền, ôn Dươn Sanh H nhờ T tiếp tục môi iới bán lại thửa đất nêu trên với iá từ 1.150.000.000đồn đồn đến 1.200.000.000đồn .

Do T có iữ bản photo iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD 006276 nên nả sinh ý định sử dụn iấ chứn nhận nà lừa n ười khác để chiếm đoạt tiền trả nợ và tiêu xài. N à 28/11/2019, T đến nhà bà N u n Thị Đức H đưa bản photo iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD006276 cho bà H xem và nói dối với bà H chủ đất iao cho T bán với iá 900.000.000đồn . Bà H rủ ôn N u n Văn N cùng óp tiền mua thửa đất nêu trên và êu cầu T cho xem vị trí thửa đất và bản chính iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD 006276.

Đến n à 30/11/2019, T đến ặp ôn Dươn Sanh H hỏi mượn bản chính iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD 006276, T nói có n ười cần xem bản chính iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất trước khi mua. Ông H tin tưởn nên iao bản chính iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD 006276 cho Thịnh. úc nà T ặp bà H và đưa bản chính iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD 006276 cho bà H, ông N xem đồn thời dẫn họ đi xem vị trí thửa đất.

Sau khi xem đất và xem bản chính iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD 006276, bà H và ông N tin tưởn chủ thửa đất đã đồn ý bán đất nên đồn ý mua thửa đất trên với iá 900.000.000đồn và cùng T qua về nhà bà H lập hợp đồn đặt cọc. Ngày 30/11/2019, bà H và T lập iấ iao nhận tiền cọc 200.000.000đồn và thỏa thuận đến n à 20/01/2020 sẽ ký hợp đồn côn chứn chính thức, bà H, ông N sẽ thanh toán toàn bộ số tiền còn lại. T ký tên vào iấ cọc và nhận 190.000.000đồn (ông N tự trừ lại 10.000.000đồn để cho n ười môi iới). Sau khi nhận tiền cọc, T trả lại bản chính iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD 006276 cho ông H và nói dối với ôn H n ười mua khôn đồn ý mua. Trong các ngày 05/12/2019, 13/12/2019, T tiếp tục nhận tiền cọc của bà H, ông N thêm 300.000.000đồn . Đến n à 14/01/2020, T làm lại iấ nhận cọc với tổn số tiền đã nhận là 500.000.000đồn (thực tế nhận 490.000.000đồn ), hẹn đến n à 24/02/2020 sẽ ký hợp đồn côn chứn , số tiền có được T tiêu xài hết. Đến n à 24/02/2020, bà H, ông N êu cầu T ký hợp đồn côn chứn thửa đất nêu trên thì T lẩn tránh.

Bà N u n Thị Đức H, ông N u n Văn N nhiều lần tìm T khôn ặp nên đòi tố cáo hành vi của T, đến n à 08/4/2020, bị cáo T ặp bà N u n Thị Đức H, ông N u n Văn N thỏa thuận trả lại tiền, tại Biên bản thỏa thuận n à 08/4/2020 thể hiện các nội dun chính như sau: “Lâm Phúc T và bà Nguyễn Thị Đức H cùng ông Nguyễn Văn N thống nhất thỏa thuận trả lại tiền nhận cọc mua bán thửa đất số 173, diện tích 178m2, TBĐ số 7, Ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ là 500.000.000đồng, thời gian trả kể từ ngày 08/4/2020 đến ngày 18/5/2020. Cụ thể, ngày 23/4/2020 T sẽ trả trước 200.000.000đồng; ngày 18/5/2020, T sẽ trả 300.000.000đồng còn lại…; đối với số tiền 100.000.000đồng mà Lâm Phúc T đã trả vào ngày 30/3/2020 là tiền phạt do vi phạm hợp đồng đặt cọc khi mua bán đất nên không tính vào số tiền đã thỏa thuận như trên”.

Tính đến n à 18/5/2020, T đã thực hiện việc trả tiền cho bà H theo Biên bản thỏa thuận n à 08/4/2020 là 300.000.000đồn . Sau đó, T tiếp tục làm “Bản cam kết n à 18/5/2020” và hẹn đến n à 18/6/2020 sẽ trả cho bà H số tiền còn lại là 200.000.000đồn . Tiếp theo, T làm “Bản cam kết” (khôn hi n à ) hẹn đến n à 15/11/2020 sẽ trả cho bà H số tiền còn lại (200.000.000đồn ) nhưn sau đó T khôn thực hiện. Đến n à 21/12/2020, bà H đến cơ quan Cảnh sát điều tra Côn an tỉnh on An tố cáo hành vi của Lâm Phúc T đã chiếm đoạt số tiền 200.000.000đồn (hai trăm triệu đồn ).

Tại ết luận iám định số 144/2021/ GĐ n à 25/02/2021 của Phòn ỹ thuật hình sự Côn an tỉnh on An kết luận: Chữ ký và chữ viết “Lâm Phúc T ” bằn bút bic màu xanh: ở mục “Bên nhận cọc” trên tờ iấ nhận cọc, ở mục “ N ười nhận cọc” trên tờ iấ đặt cọc lần 2 và ở mục “N ười nhận tiền thêm” trên tờ iấ nhận cọc lần 3 (đón dấu T CGĐ, ký hiệu A1); ở mục “Bên nhận cọc” trên tờ “Giấ nhận cọc”, ở dưới phải mục “Nhân Chứn ” trên tờ hi chú và ở mục “n à 24/4/2020/ ký tên trên tờ iấ hẹn lại ra côn chứn (đón dấu T CGĐ, ký hiệu A2) với chữ ký và chữ viết “Lâm Phúc T ” bằn bút bic màu xanh ở mục “N ười Giao Tiền” và mục “N ười Nộp Giấ ” trên tờ “Biên Bản iao nhận tiền” (đón dấu T MSS, ký hiệu M1); ở mục “N ười iao tiền” và mục “N ười nộp” trên tờ “Biên bản iao tiền” (đón dấu T MSS, ký hiệu M2); ở mục “ ý tên n ười cam kết” và mục “N ười Nộp ý tên”trên tờ “Giấ cam kết” (đón dấu T MSS, ký hiệu M3); ở mục “ký tên” trên tờ “Bản cam kết” (đón dấu T MSS, ký hiệu M4) do cùn một n ười ký ra.

Tại bản cáo trạn số 15/CT-V SĐH ngày 11 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Đức Hòa, tỉnh on An tru tố bị cáo Lâm Phúc T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự .

Tại phiên tòa, bị hại bà N u n Thị Đức H, ông N u n Văn N trình bày: sau khi T nhận được 490.000.000đồn tiền đặt cọc thì lẫn tránh khôn đi côn chứn vào n à 24/02/2020 theo hợp đồn . Đến n à 08/4/2020, bị cáo T có ặp bà H, ông N làm biên bản thỏa thuận iải qu ết trả lại tiền, tính đến n à 18/5/2020, T có trả tiền theo Biên bản thỏa thuận n à 08/4/2020 là 300.000.000đồn , số tiền còn lại là 200.000.000đồn T tiếp tục lẫn tránh khôn trả. Từ đó, bà H đến cơ quan Cảnh sát điều tra Côn an tỉnh on An tố cáo hành vi của Lâm Phúc T với số tiền đã chiếm đoạt số tiền 200.000.000đồn . Đến n à 01/4/2021, tại Cơ quan điều tra T đã trả đủ số tiền 200.000.000đồn nên bà H đã rút đơn tố cáo và có đơn bãi nại cho T vào ngày 01/4/2021.

Tại phiên tòa, ôn Dươn Sanh H xác định: n H có nhờ T iới thiệu chào bán thửa đất số 173, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ. hi T đến hỏi mượn bản chính iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD 006276 để cho n ười mua xem thì ôn H tin tưởn nên iao bản chính iấ đất và n a sau đó T đã trả lại iấ đất. Còn việc T sử dụn thửa đất số 173 để nhận cọc của bà H, ông N là việc cá nhân và trái ý muốn của ôn , ôn khôn đồn ý cho T đứn ra nhận cọc đất của bất cứ ai. Tu nhiên, thửa đất nà hiện na ôn đã chu ển nhượn cho n ười khác nên khôn bị thiệt hại ì nên khôn có êu cầu ì với bị cáo Thịnh.

Tại phiên tòa, qua kết quả xét hỏi, tranh luận, iểm sát viên xác định: sau khi nhận và chiếm đoạt 490.000.000đồn tiền đặt cọc của bà Nguy n Thị Đức H, ông N u n Văn N thì đến n à 08/4/2020 iữa bị cáo T và bà N u n Thị Đức H , ông N u n Văn N có thỏa thuận trả lại tiền tại Biên bản thỏa thuận về việc trả tiền n à 08/4/2020 (bút lục 48). Theo biên bản thỏa thuận nà , bà N u n Thị Đức H cùng ông N u n Văn N thốn nhất cho T trả lại tiền nhận cọc là 500.000.000đồn , thời ian trả kể từ n à 08/4/2020 đến n à 18/5/2020. Cụ thể, ngày 23/4/2020 T sẽ trả trước 200.000.000đồn ; n à 18/5/2020, T sẽ trả 300.000.000đồn còn lại”. Như vậ , tính đến n à 18/5/2020, T đã thực hiện theo thỏa thuận và trả lại tiền cho bà H theo Biên bản thỏa thuận n à 08/4/2020 với tổn số tiền là 300.000.000đồn . Số tiền chiếm đoạt còn lại là 200.000.000đồn , T tiếp tục hứa hẹn nhưn sau đó khôn thực hiện trả cho bà H, ông N .

Căn cứ Đơn đề n hị khởi tố n à 31/8/2020 (bút lục 21), Đơn đề n hị khởi tố n à 21/12/2020 (bút lục 22) của bà N u n Thị Đức H xác nhận đến thời điểm bà H nộp đơn tố cáo tại Cơ quan côn an thì bị cáo T còn chiếm đoạt của bà H là 200.000.000đồn , trừ 10.000.000đồn tiền cho môi iới, T còn chiếm đoạt 190.000.000đồn .

Trên cơ sở đó, iểm sát viên căn cứ Điều 319 Bộ luật Tố tụn hình sự: sau khi thực hiện thỏa thuận, xác định số tiền bị cáo T còn chiếm đoạt của bà N u n Thị Đức H , ông N u n Văn N là 190.000.000đồn , tại phiên tòa qu ết định chu ển khun hình phạt đã tru tố bị cáo Lâm Phúc T từ điểm a khoản 3 Điều 174 sang tru tố Lâm Phúc T theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

iểm sát viên sau khi phân tích, đánh iá tính chất và mức độ n u hiểm của hành vi mà bị cáo Lâm Phúc T â ra; căn cứ vào các tình tiết iảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề n hị Hội đồn xét xử:

Áp dụn điểm c khoản 2 Điều 174 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Áp dụn Điều 2, Điều 4, Điều 6 N hị qu ết số 02/2018/NQ-HĐTP n à 15 thán 5 năm 2018 của Hội đồn Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Tu ên bố bị cáo Lâm Phúc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Đề n hị xử phạt bị cáo Lâm Phúc T từ 02 năm 06 thán đến 03 năm tù cho hưởn án treo. Thời ian thửa thách là 05 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bà N u n Thị Đức H, ông N u n Văn N sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt tổn cộn là 490.000.000đồn , khôn có êu cầu ì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên khôn đề cập.

Đối với số tiền 100.000.000đồn mà Lâm Phúc T đã trả cho bà H, ông N vào ngày 30/3/2020, iữa bị cáo T và bà H, ông N thỏa thuận đâ là tiền phạt do vi phạm hợp đồn đặt cọc khi mua bán đất; riên số tiền 10.000.000đồn là tiền cho n ười môi iới khôn tính vào số tiền chiếm đoạt. Tại phiên tòa, bị cáo T không êu cầu nhận lại số tiền 110.000.000đồn nà từ bà H, ông N nên khôn đề cập xem xét lại.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụn hình sự.

Đối với 01 (một) iấ nhận cọc n à 30/11/2019; 01 iấ nhận cọc ngày 14/01/2020; 01 iấ iao nhận tiền n à 29/4/2020 iữa Lâm Phúc T và bà N u n Thị Đức H, số tiền iao nhận là 150.000.000 đồn (bản chính); 01 iấ iao nhận tiền n à 18/5/2020 iữa Lâm Phúc T và bà N u n Thị Đức H, số tiền iao nhận là 150.000.000 đồn (bản chính); 01 iấ cam kết trả tiền cọc đất số tiền 200.000.000 đồn (bản chính) là chứn cứ của vụ án nên đề n hị tiếp tục lưu iữ cùn hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào các chứn cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầ đủ, toàn diện chứn cứ, ý kiến của iểm sát viên, bị cáo và nhữn n ười tham ia tố tụn khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dun vụ án, căn cứ vào các tài liệu tron hồ sơ vụ án đã được tranh tụn tại phiên tòa, Hội đồn xét xử nhận định như sau:

. Đánh giá về tố tụng:

. Về hành vi, qu ết định tố tụn : Cơ quan điều tra Côn an hu ện Đức Hòa và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân hu ện Đức Hòa và iểm sát viên tron quá trình điều tra, tru tố đã thực hiện đún về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục, các chứn cứ đã thu thập là có căn cứ, đún qu định của Bộ luật Tố tụn hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, n ười tham ia tố tụn khác khôn có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, qu ết định của Cơ quan tiến hành tố tụn , n ười tiến hành tố tụn . Do đó, các hành vi, qu ết định tố tụn của Cơ quan tiến hành tố tụn , n ười tiến hành tố tụn đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự v n mặt của nhữn n ười tham ia tố tụn :

Đối với ông Lê Thanh H, bà Hồ Thị Thu T, ông Bùi Văn T, ôn N u n Tấn D là n ười làm chứn v n mặt nhưn đã được cơ quan điều tra lấ lời khai để xác định sự thật vụ án, sự v n mặt của nhữn n ười nà khôn ảnh hưởn ì đến phiên tòa nên Hội đồn xét xử vẫn tiến hành xét xử v n mặt theo Điều 293 Bộ luật Tố tụn hình sự năm 2015.

.Đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử:

. Hành vi khách quan của bị cáo Lâm Phúc T đã thực hiện:

Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Phúc T thừa nhận đã thực hiện phạm tội như sau: Do biết ông H có nhu cầu bán lại thửa đất số 173, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ và T có iữ 01 bản photo iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD 006276 của ôn H nên nả sinh ý định dùn iấ nà để lừa đảo n ười khác. Ngày 28/11/2019, T ặp bà N u n Thị Đức H đưa bản photo iấ đất và nói dối với bà H chủ đất kêu bán. Bà H rủ ôn N u n Văn N cùn óp tiền mua thửa đất nêu trên và êu cầu T cho xem vị trí thửa đất và bản chính iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD 006276. Ngày 30/11/2019, T đến ặp ôn H hỏi mượn bản chính iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD 006276 và nói với ôn H có n ười cần xem bản chính iấ đất. n H tin tưởn nên iao bản chính iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD 006276 cho Thịnh. T ặp bà H, ông N đưa bản chính iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất số CD 006276 cho bà H, ông N xem đồn thời dẫn bà H, ông N xem đất. Sau đó, bà H, ông N đồn ý mua và đặt cọc cho T nhiều lần với tổn số tiền 500.000.000đồn . Sau khi nhận số tiền 500.000.000đ của bà H, ông N thì T lẫn tránh. Đến n à 18/5/2020, T đã thực hiện trả tiền cho bà H theo Biên bản thỏa thuận n à 08/4/2020 với tổn số tiền là 300.000.000đồn . Ngày 21/12/2020, T còn nợ 200.000.000đồn (trừ môi iới 10.000.000đ, còn 190.000.000đồn ) nên bà H đến cơ quan Cảnh sát điều tra Côn an tỉnh on An tố cáo hành vi của Lâm Phúc T .

Xét lời khai nhận của bị cáo Lâm Phúc T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại bà N u n Thị Đức H, ông N u n Văn N; phù hợp lời trình bà của nhữn n ười có qu ền lợi, n hĩa vụ liên quan Dươn Sanh H; đún về thời ian, số tiền bị chiếm đoạt của bị hại, phù hợp với các chứn cứ khách quan khác có tron hồ sơ vụ án đã được thẩm tra côn khai tại phiên tòa và phù hợp nội dun cáo trạn .

. Hội đồn xét xử xét: có căn cứ xác định bị cáo Lâm Phúc T là n ười đã thành niên có hành vi dùn thủ đoạn ian dối chiếm đoạt tài sản của ông Nguy n Văn N và bà Nguy n Thị Đức H. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 190.000.000đồn (đã trừ tiền cho môi iới 10.000.000đ). Từ đó, Hội đồn xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Lâm Phúc T đủ ếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm. Có cơ sở xác định Cáo trạn số 15/CT-V SĐH ngày 11 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Đức Hòa, tỉnh on An và kết luận tại phiên tòa của iểm sát viên tru tố bị cáo Lâm Phúc T về khun hình phạt nhẹ hơn theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đún pháp luật.

.Đánh giá về tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Về tình tiết định khun : Hành vi của bị cáo Lâm Phúc T được xác định chiếm đoạt tài sản có giá trị là 190.000.000đồn nên bị xét xử theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

- Về các tình tiết tăn nặn , iảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

+ Tình tiết tăn nặn : Bị cáo Lâm Phúc T không bị áp dụn tình tiết tăn nặn khác theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

+ Về các tình tiết iảm nhẹ: Bị cáo Lâm Phúc T chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo và có ý thức ăn năn; tự n u ện kh c phục toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt cho các bị hại; được bị hại xin bãi nại là tình tiết iảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qu định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồn xét xử có xem xét iảm nhẹ một phần khi qu ết định hình phạt. Hội đồn xét xử thấ bị cáo T có nhiều tình tiết iảm nhẹ, ia cảnh khó khăn và có ý thức ăn năn, có nơi cư trú rõ ràn nên áp dụn hình phạt tù cho hưởn án treo đối với bị cáo Lâm Phúc T cũn đủ tác dụn iáo dục bị cáo và phòn n ừa chun cho xã hội.

.Về trách nhiệm dân sự: căn cứ khoản 2 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bà N u n Thị Đức H , ông N u n Văn N sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt tổn cộn là 490.000.000đồn , khôn có êu cầu ì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên khôn đề cập xử lý.

Đối với số tiền 100.000.000đồn mà Lâm Phúc T đã trả cho bà H, ông N vào n à 30/3/2020, iữa bị cáo T và bà H, ông N thỏa thuận đâ là tiền phạt do vi phạm hợp đồn đặt cọc khi mua bán đất; riên số tiền 10.000.000đồn là tiền cho n ười môi iới khôn tính vào số tiền chiếm đoạt. Tại phiên tòa, bị cáo T không êu cầu nhận lại số tiền 110.000.000đồn nà từ bà H, ông N nên khôn đề cập xem xét lại.

.Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụn hình sự.

Đối với 01 (một) iấ nhận cọc n à 30/11/2019; 01 iấ nhận cọc n à 14/01/2020; 01 iấ iao nhận tiền n à 29/4/2020 iữa Lâm Phúc T và bà N u n Thị Đức H, số tiền iao nhận là 150.000.000đồn (bản chính); 01 iấ iao nhận tiền n à 18/5/2020 iữa Lâm Phúc T và bà N u n Thị Đức H , số tiền iao nhận là 150.000.000đồn (bản chính); 01 iấ cam kết trả tiền cọc đất số tiền 200.000.000 đồn (bản chính) là chứn cứ của vụ án nên cần tiếp tục lưu iữ cùn hồ sơ vụ án.

. Về án phí: Áp dụn khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụn hình sự; Áp dụn điểm a khoản 1 Điều 23 N hị qu ết số 326/2016/UBTVQH 14 n à 30/12/2016 của Ủ ban Thườn vụ Quốc hội về mức thu, mi n, iảm, thu, nộp, quản lý, sử dụn án phí, lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Lâm Phúc T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sun côn quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tu ên bố bị cáo Lâm Phúc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụn điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Áp dụn Điều 2, Điều 4, Điều 6 N hị qu ết số 02/2018/NQ-HĐTP n à 15 thán 5 năm 2018 của Hội đồn Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướn dẫn thi hành Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Xử phạt bị cáo Lâm Phúc T 03 năm tù cho hưởn án treo. Thời ian thử thách là 05 năm. Thời ian thử thách tính từ n à tu ên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lâm Phúc T về nơi thườn trú là Uỷ ban Nhân dân xã ĐHH, hu ện Đ, tỉnh L iám sát iáo dục tron thời ian thử thách. Tron trườn hợp bị cáo Lâm Phúc T tha đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qu định tại Điều 92 của uật Thi hành án Hình sự năm 2019.

Hậu quả của việc vi phạm n hĩa vụ tron thời ian thử thách theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: “Tron thời ian thử thách, bị cáo Lâm Phúc T được cho hưởn án treo nhưn cố ý vi phạm n hĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể qu ết định buộc bị cáo Lâm Phúc T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởn án treo ”.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụn hình sự.

Tiếp tục lưu iữ cùn hồ sơ vụ án các tan vật ồm: 01 (một) iấ nhận cọc n à 30/11/2019; 01 iấ nhận cọc n à 14/01/2020; 01 iấ iao nhận tiền n à 29/4/2020 iữa Lâm Phúc T và bà N u n Thị Đức H, số tiền iao nhận là 150.000.000đồn (bản chính); 01 iấ iao nhận tiền n à 18/5/2020 iữa Lâm Phúc T và bà N u n Thị Đức H, số tiền iao nhận là 150.000.000đồn (bản chính); 01 iấ cam kết trả tiền cọc đất số tiền 200.000.000 đồn (bản chính) .

4. Về án phí: Áp dụn khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụn hình sự; Áp dụn điểm a khoản 1 Điều 23 N hị qu ết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban Thườn vụ Quốc hội về mức thu, mi n, iảm, thu, nộp, quản lý, sử dụn án phí, lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Lâm Phúc T nộp 200.000đồn (hai trăm n àn đồn ) án phí hình sự sơ thẩm sun vào n ân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụn Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụn hình sự. Bị cáo, bị hại, n ười có qu ền lợi, n hĩa vụ liên quan có mặt được qu ền khán cáo tron thời hạn 15 n à kể từ n à tu ên án.

6. “Trườn hợp bản án, qu ết định được thi hành theo qu định tại Điều 2 uật Thi hành án dân sự thì n ười được thi hành án dân sự, n ười phải thi hành án dân sự có qu ền thỏa thuận thi hành án, qu ền êu cầu thi hành án, tự n u ện thi hành án hoặc bị cưỡn chế thi hành án theo qu định các điều 6, 7, 9 Điều 30 uật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ