vanban.org

Bản án 115/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 04/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụn Điều 26, Điều 35, Điều 227, Điều 271 Bộ luật tố tụn dân sự năm 2015;

Áp dụn các Điều 166, Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015. Chấp nhận êu cầu khởi kiện của n u ên đơn ê Thị H đối với bà Trần Thị P về việc “Đòi tài sản phát sinh từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "“Đòi tài sản phát sinh từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”."
  • Tòa quyết gì? Áp dụn Điều 26, Điều 35, Điều 227, Điều 271 Bộ luật tố tụn dân sự năm 2015;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2022/DS-ST
Ngày: 04-8-2022
“V/v: Đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: n N u n h c inh Du

Các Hội thẩm nhân dân:

1. n ý Văn Hùn ;

2. n N u n Thanh Hoàn ;

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Tú - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân hu ện Đức Hòa, tỉnh on An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông ê Văn Đính – iểm sát viên.

Trong ngày 04 thán 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân hu ện Đức Hòa, tỉnh on An xét xử sơ thẩm côn khai vụ án dân sự thụ lý số 81/2022/T ST-DS n à 24 thán 01 năm 2022 về việc:“Đòi tài sản phát sinh từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2022/QĐXXST-DS n à 24 thán 6 năm 2022, iữa các đươn sự:

- Nguyên đơn: Bà ê Thị H , sinh năm 1970.

Nơi đăn ký H TT: ấp C 6, phườn V, thành phố C, tỉnh A.

Tạm trú: ấp 5, xã Đ, huyện ĐH, tỉnh .

- Bị đơn: Bà Trần Thị P , sinh năm 1972.

Địa chỉ: ấp N, xã Đ, hu ện ĐH, tỉnh L.

(Bà H có mặt, bà P v n mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/01/2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày: Ngày 25/8/2018, bà ê Thị H và bà Trần Thị P có thỏa thuận về việc bà H sẽ nhận chu ển nhượn của bà P diện tích đất n an 05m, dài 41m, iá chu ển nhượn là 125.000.000đồn . Do tin tưởn nhau (bà H và bà P là thôn ia) nên tại thời điểm nhận chu ển nhượn bà H cũn khôn biết diện tích đất thuộc thửa nào, tờ bản đồ số mấ , bà H chỉ biết đất tọa lạc tại ấp H, xã Đ, hu ện ĐH và đất định chu ển nhượn do mẹ bà P là bà Phan Thị T còn đứn tên iấ chứn nhận.

Sau khi ký vào iấ ta bán đất ghi ngày 25/8/2018, bà H đã thanh toán đủ số tiền 125.000.000đồng cho bà P. Tuy nhiên, sau đó bà H nhiều lần êu cầu bà P ký hợp đồn côn chứn để bà H được đăn ký đứn tên đối với diện tích nhận chu ển nhượn nêu trên thì bà P cố tình lẫn tránh.

Được biết hiện na , bà P đã chu ển nhượn diện tích đất trên cho n ười khác nhưn khôn trả lại cho bà H số tiền 125.000.000đồn . Nay bà H khởi kiện với êu cầu:

- Tu ên hủ hợp đồn san nhượn đất hi iấ ta đề n à 25/8/2018 được ký kết iữa bà ê Thị H và bà Trần Thị P ;

- Buộc bà Trần Thị P trả cho bà H số tiền 125.000.000đồn và khôn êu cầu tính lãi.

Tại phiên tòa bà ê Thị H tha đổi êu cầu khởi kiện: do tron quá trình iải qu ết vụ án bà P có trả hai lần được 65.000.000đồn , na bà H êu cầu cá nhân bà Trần Thị P trả một lần số tiền còn lại là 60.000.000đồn .

Bị đơn bà Trần Thị P trình bày tại bản tự khai ngày 16/6/2022 như sau: bà Trần Thị P thừa nhận n à 25/8/2018, có thỏa thuận chu ển nhượn cho bà ê Thị H diện tích đất n an 05m, dài 41m với iá là 125.000.000đồn . Tu nhiên, n uồn ốc đất chu ển nhượn được cha mẹ cho nên bà P chưa được đứn tên iấ chứn nhận qu ền sử dụn đất và sau đó Nhà nước không cho tách thửa đất nên các bên khôn thực hiện được việc chu ển nhượn .

Riên đối với số tiền 125.000.000đồn theo thỏa thuận chu ển nhượn là do bà P mượn của bà H nhiều lần trước đó. Đến ngày 06/01/2020, bà P thấ khôn chu ển nhượn được đất nên bà P đã trả cho Bà H 03 lần như sau: ần 1: ngày 06/01/2022, trả cho bà H 50.000.000đồn . ần 2: vào ngày 20/5/2020, bà P tiếp tục trả cho bà H 50.000.000đồn có sự chứn kiến của con ái bà P . ần 3: vào ngày 12/8/2021, bà P trả cho bà H số tiền còn lại là 20.000.000đồn . Tổn cộn , bà P đã trả xon 120.000.000đồn , nhưn vì tin tưởn chỗ thôn ia nên việc trả nợ không làm iấ . Nay bà H êu cầu bà P trả số tiền 125.000.000đồn thì bà P khôn đồn ý.

Người làm chứng ông Nguyễn Văn T trình bày: Ngày 25/8/2018, ông T có chứn kiến việc Bà H và bà P thỏa thuận chu ển nhượn cho Bà H diện tích đất n an 05m, dài 41m. Đồn thời, ông T còn chứn kiến việc bà H có thanh toán cho bà P số tiền 125.000.000đ và ông T có ký tên với tư cách n ười làm chứn . Sau đó, các bên khôn thực hiện được hợp đồn và việc trả tiền như thế nào thì ông T không chứn kiến.

Tại phiên tòa, n u ên đơn bà ê Thị H iữ n u ên êu cầu tron đơn khởi kiện, khôn cun cấp thêm chứn cứ.

Bị đơn bà Trần Thị P khôn có êu cầu phản tố và v n mặt tại phiên tòa,

n oài ý kiến trình bà khôn cun cấp thêm chứn cứ nào khác.

Quan điểm của Kiểm sát viên về việc iải qu ết vụ án theo qui định tại Điều 262 B TTDS năm 2015:

Về thủ tục: Quá trình iải qu ết vụ án, Tòa án đã đưa đún và đầ đủ n ười vào tham ia tố tụn , việc thu thập chứn cứ và điều tra vụ án được tiến hành khách quan, đún pháp luật. Tham ia trực tiếp tại phiên tòa xét thấ các bên đươn sự và Hội đồn xét xử đã tuân thủ theo đún qui định pháp luật. Tại phiên tòa n u ên đơn xác định rõ êu cầu khởi kiện, bị đơn khôn có êu cầu phản; các bên xác định khôn cun cấp thêm chứn cứ ì khác.

Về nội dun vụ án: Qua các chứn cứ đã thu thập, ý kiến của nhữn n ười làm chứn và di n biến tại phiên tòa thì có căn cứ xác định:

Căn cứ vào iấ viết ta có nội dun chu ển nhượn đất đề n à 25/8/2018 thì có căn cứ xác định các bên có iao dịch chu ển nhượn diện tích đất n an 05m, dài 41m. Đồn thời, bà H có thanh toán cho bà P số tiền 125.000.000đồn . Tu nhiên, bị đơn bà Trần Thị P có ý kiến trình bà tron bản tự khai đã trả đủ cho bà H 120.000.000đồn nhưn bà P không cun cấp được iấ tờ ì để chứn minh. Do đó, nay bà H êu cầu bà P trả số tiền 125.000.000đồn là có căn cứ. Tại phiên tòa bà H có trình bày và tha đổi êu cầu, do tron quá trình iải qu ết vụ án bà P có trả được số tiền 65.000.000đồn , nay Bà H êu cầu cá nhân bà P trả 60.000.000đồn là có căn cứ nên đề n hị HĐXX chấp nhận êu cầu khởi kiện của bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào k t quả x t h i tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nh n định:

[1]. Về tố tụng:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quy t:

Theo đơn khởi kiện n à 20/01/2022 và tại phiên tòa n u ên đơn ê Thị H cho rằn : Xuất phát từ việc bà P chu ển nhượn cho bà H diện tích đất n an 05m, dài 41m với iá 125.000.000đồn . Tu nhiên, sau khi nhận đủ tiền bà P khôn thực hiện chu ển nhượn như thỏa thuận nhưn cũn khôn trả lại cho bà H số tiền 125.000.000đồn nên bà H khởi kiện êu cầu hủ hợp đồn và đòi lại tiền. Tòa án nhân dân hu ện Đức Hòa thụ lý iải qu ết vụ án là còn tron thời hiệu khởi kiện và xác định quan hệ tranh chấp“Đòi tài sản phát sinh từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.Việc thụ lý là đún thẩm qu ền theo qu định tại các Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụn dân sự năm 2015.

. Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Trần Thị P v n mặt lần thứ hai khôn có lý do nên Hội đồn xét xử tiến hành xử v n mặt bị đơn là phù hợp theo qui định điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụn dân sự năm 2015.

. Về tư cách tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Đối với ôn N u n Văn M, sinh năm 1973; Địa chỉ: ấp N, xã Đ, hu ện ĐH, tỉnh là chồn của bị đơn Trần Thị P có ký tên vào iấ bán đất; Bà Phan Thị T (là mẹ ruột bà P) có có ký tên và đứn tên iấ chứn nhận. Bà T, ông M đã được triệu tập nhưn v n mặt. Do n u ên đơn bà ê Thị H khởi kiện êu cầu hủ hợp đồn ngày 25/8/2018 và chỉ êu cầu cá nhân bà Trần Thị P trả tiền nợ phát sinh từ hợp đồn mua bán trên nên Hội đồn xét xử khôn đưa bà Phan Thị T và ông N u n Văn M vào tham ia tố tụn với tư cách n ười có qu ền lợi, n hĩa vụ liên quan.

[2]. Về nội dung:

. Đánh iá chứn cứ do n u ên đơn cun cấp:

Xem xét iấ viết ta đề n à 25/8/2018 do bà H cun cấp thể hiện nội dun : “Tôi tên Trần Thị P , số chứng minh 300947617, tôi có bán cho chị Lê Thị H, số chứng minh 351699212 mi ng đất ngang 5m dài 41m với giá 125.000.000 (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng) đất tại xã Đ, n u sao này có ai tranh chấp tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp lu t. Có trả đủ số tiền như trên”. Theo nội dun trên thể hiện iữa bà H với bà P có thỏa thuận chu ển nhượn diện tích đất ngang 05m, dài 41m với iá 125.000.000đồn .

Căn cứ lời trình bà của ôn N u n Văn T: Ngày 25/8/2018, ông T có ký tên với tư cách n ười làm chứn tron iấ viết ta đề n à 25/8/2018, ông T có chứn kiến việc bà H và bà P thỏa thuận chu ển nhượn cho bà H diện tích đất n ang 05m, dài 41m. Đồn thời, ông T còn chứn kiến bà H có thanh toán cho bà P số tiền 125.000.000đồn .

Quá trình iải qu ết vụ án, bà P có cun cấp ý kiến về việc đã trả tiền cho bà H 03 lần vào các n à 06/01/2020; 20/5/2020; 12/8/2021 nhưn bà P khôn cun cấp được chứn cứ để chứn minh việc trả tiền và bà H cũn khôn thừa nhận lời trình bà nà của bà P nên quan điểm trình bà của bà P khôn có căn cứ để xem xét..

. Đánh iá của Hội đồn xét xử về êu cầu khởi kiện của n u ên đơn và ý kiến trình bà của bị đơn:

Căn cứ lời trình bà của bà ê Thị H, của ông N u n Văn T, đối chiếu với iấ viết ta đề n à 25/8/2018 thì có căn cứ xác định: Ngày 25/8/2018, bà H có nhận chu ển nhượn của bà Trần Thị P diện tích đất n an 05m, dài 41m với iá 125.000.000đồn , bà H đã thanh toán cho bà P đủ số tiền 125.000.000đồn nhưn bà P khôn tiếp tục thực hiện hợp đồn như cam kết và cũn khôn trả lại số tiền đã nhận cho Bà H nên phát sinh tranh chấp.

Xét việc bà P cho rằn đã trả cho bà H 03 lần số tiền đã nhận là 120.000.000đồn nhưn khôn được bà H thừa nhận và bà P khôn cun cấp dược chứn cứ chứn minh. Do đó, bà H khởi kiện với các êu cầu: Hủ hợp đồn san nhượn đất theo iấ ta đề n à 25/8/2018 được ký kết iữ bà ê Thị H và bà Trần Thị P ; Buộc bà Trần Thị P trả cho bà H số tiền đã nhận và khôn êu cầu tính lãi là có căn cứ.

Tại phiên tòa, bà H trình bà bổ sun tron quá trình iải qu ết vụ án thì bà P có chu ển trả cho bà H được số tiền 65.000.000đồn (không có ký nhận việc trả tiền), nay bà H êu cầu cá nhân bà P trả số tiền còn nợ là 60.000.000đồn . Việc bà H tha đổi êu cầu khởi kiện là tự n u ện và phù hợp, có lợi cho bà P nên Hội đồn xét xử hi nhận ý kiến của bà Hoa.

Từ đó, xét n u ên đơn bà ê Thị H khởi kiện êu cầu bà P trả số tiền còn nợ 60.000.000đồn và hủ hợp đồn chu ển nhượn qu ền sử dụn đất iữa bà ê Thị H ký với bà Trần Thị P tại iấ viết ta n à 25/8/2018 là có căn cứ nên được chấp nhận theo qui định các Điều 166, Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Xét quan điểm đề n hị của iểm sát viên là có căn cứ nên hi nhận.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 N hị qu ết số 326/2016/UBTVQH.14 n à 30/12/2016 của Ủ ban thườn vụ Quốc hội qu định về án phí, lệ phí Toà án.

Bị đơn bà Trần Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.300.000đồn , ( ồm 3.000.000đồn tiền trả cho Bà H và 300.000đồn tu ên hủ hợp đồn san nhượn đất đề n à 25/8/2018) sun vào n ân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụn Điều 26, Điều 35, Điều 227, Điều 271 Bộ luật tố tụn dân sự năm 2015;

Áp dụn các Điều 166, Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuyên Xử:

1. Chấp nhận êu cầu khởi kiện của n u ên đơn ê Thị H đối với bà Trần Thị P về việc “Đòi tài sản phát sinh từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

1.1. Hủ hợp đồn chu ển nhượn qu ền sử dụn đất iữa bà ê Thị H ký với bà Trần Thị P tại iấ viết ta ngày 25/8/2018.

1.2. Buộc bà Trần Thị P trả cho bà ê Thị H số tiền 60.000.000đồn (Sáu mươi triệu đồng) phát sinh từ hợp đồn chu ển nhượn qu ền sử dụn đất tại iấ viết ta đề n à 25/8/2018.

ể từ n à có đơn êu cầu thi hành án của n ười được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho n ười được thi hành án) bên có n hĩa vụ chưa thi hành xon số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi suất theo mức lãi suất qu định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tươn ứn với số tiền và thời ian chưa thi hành, trừ trườn hợp các bên có thỏa thuận khác.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 N hị qu ết 326/2016/UBTVQH.14 n à 30/12/2016 của Ủ ban thườn vụ Quốc hội qu định về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị đơn bà Trần Thị P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 3.300.000đồn (ba triệu ba trăm n àn đồn ); ồm án phí 3.000.000đồn là tiền án phí phải trả cho bà H và nộp 300.000đồn là án phí tuyên hủ hợp đồn san nhượn đất, sung vào ngân sách nhà nước. Bà bà Trần Thị P chưa nộp.

Chi cục thi hành án dân sự hu ện Đ trả lại cho bà ê Thị H số tiền tạm ứn án phí đã nộp là 300.000đồn theo biên lai thu số 0009578 và 3.125.000đồn theo biên lai thu số 0009579 cùn n à 20/01/2022.

3. Về quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử tu ên án côn khai, tron hạn 15 n à tính từ n à tu ên án n u ên đơn có mặt có qu ền khán cáo. Riên bị đơn v n mặt được qu ền khán cáo tron hạn 15 n à kể từ n à nhận được bản sao bản án hoặc từ n à niêm ết.

“Trườn hợp bản án hoặc qu ết định được thi hành theo qu định tại Điều 2 uật thi hành án dân sự thì n ười được thi hành án, n ười phải thi hành án có qu ền thỏa thuận thi hành án, qu ền êu cầu thi hành án, tự n u ện thi hành án hoặc bị cưỡn chế thi hành án theo qu định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 uật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo qu định tại Điều 30 uật thi hành án”.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đươn sự

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- V SND hu ện

- TAND tỉnh on An

- ưu HS.

N uy n h c Linh Duy

Thành viên Hội đồn xét xử

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguy n Thanh Hoàn – Lý Văn Hùn

N uy n h c Linh Duy

Cỡ chữ