vanban.org

Bản án 115/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 21/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đức T và Ngô Thanh H phạm tội: “Cướp tài sản”.

“Xử phạt Đỗ Đức T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù cộng với 18 (mười tám) tháng tù của Bản án số 229/2020/HSST ngày 30/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội. Buộc bị cáo T pH chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án là 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/09/2020. “Xử phạt Ngô … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đức T và Ngô Thanh H phạm tội: “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số:115/2021/HSST
Ngày: 21/05/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN- TP HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tiền - Hưu trí

Bà Trần Thị Lân - Giáo viên nghỉ hưu

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Lệ Quyên - Cán bộ Toà án nhân dân quận Long Biên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hằng- Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 05 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên, mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:109/2021/HSST ngày 05/05/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/QĐXXST- HS ngày 07/05/2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đỗ Đức T, sinh năm: 1996. ĐKHKTT: Khu phố X phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Chỗ ở: Không cố định; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Họ tên bố: Đỗ Văn C (đã chết); Họ tên mẹ: Phạm Thị L (đã chết).

01 Tiền án: Bản án số 229/2020/HSST ngày 30/12/2020, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, hạn tù tính từ ngày 26/09/2020.

Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/09/2020 tại Trại tạm giam số 2-Công an thành phố Hà Nội

(Có mặt tại phiên toà)

2. Họ và tên: Ngô Thanh H, sinh ngày 23/10/2002 (khi phạm tội 17 tuổi 09 tháng 13 ngày); ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố số X, phường M, quận N, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Họ tên bố: Không; họ tên mẹ: Ngô Thị Đ

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội

(Có mặt tại phiên toà)

* Bị hại: Chị Vũ Lê Uyên, sinh năm 1985

Trú tại: Phòng 1817 Chung cư Hà Nội Homeland, No23, tổ 11 phường Thượng Thanh, quận Long Biên, thành phố Hà Nội

(Chị Uyên vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đỗ Văn Đức, sinh năm 1995

HKTT: Xóm Đông, xã Liên Vị, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

Trú tại: Số 121 Vũ Tông Phan, phường Khương Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

(Anh Đức vắng mặt)

- Anh Nguyễn Công Giáp, sinh năm 1994

HKTT và chỗ ở: Thôn Trung Vực, xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

(Anh Giáp vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Chị Nguyễn Thị Trung, sinh năm 1996

HKTT và chỗ ở: Thôn Trung Vực, xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

(Chị Trung vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 40 phút ngày 07/8/2020, Đội Cảnh sát hình sự Công an quận Long Biên tiếp nhận đơn trình báo của chị Vũ Lê Uyên về việc: Khoảng 0 giờ 00’ ngày 05/8/2020 tại đoạn đường gần khu vực ngõ 52 Gia Quất, phường Thượng Thanh, Long Biên, Hà Nội, chị Uyên đang điều khiển xe máy thì bị hai đối tượng nam thanh niên điều khiển xe máy Honda Dream tác động vào hông xe bên trái khiến chị Uyên bị ngã. Sau đó một đối tượng xuống xe đi lại gần vị trí ngã của chị Uyên, một tay giật mạnh chiếc túi xách của chị Uyên rồi lên xe bỏ chạy. Trong túi xách của chị Uyên có số tiền 4.000.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng lắp sim thuê bao 0947890333 và một số giấy tờ tùy thân.

Nhận được tin báo, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra làm rõ: Khoảng 0 giờ 00’ ngày 05/8/2020, Đỗ Đức T và Ngô Thanh H rủ nhau đi cướp tài sản. H điều khiển xe máy Honda Dream (hiện chưa rõ BKS) chở T đi đến phố Ngọc Lâm, quận Long Biên, TP. Hà Nội thì phát hiện chị Vũ Lê Uyên đang đeo túi xách, điều khiển xe máy đi ngược chiều với chiều di chuyển của H và T, H điều khiển xe máy vòng lại đi theo chị Uyên. Đến khoảng 0 giờ 40’ cùng ngày, khi đi đến khu vực gầm cầu vượt đường 5 - cầu Đông Trù, H lái xe vượt lên áp sát chị Uyên, một trong hai đối tượng đã đạp vào phần giữa thân xe máy làm chị Uyên và xe máy đổ ra đường về phía bên pH của chiếc xe. Lúc này, H phóng xe máy đỗ cách vị trí chị Uyên ngã khoảng 5m nhằm mục đích cảnh giới, T nhảy xuống xe, chạy tới chỗ chị Uyên bị ngã, dùng tay giật chiếc túi xách của chị Uyên, chị Uyên giữ túi lại và hô “Cướp, cướp”, T đã nói với chị Uyên: “Cướp cái con mẹ mày” nhằm để đe dọa làm cho chị Uyên sợ hãi không dám hô nữa. T và chị Uyên giằng co chiếc túi xách khoảng một lúc thì quai của chiếc túi xách bị đứt nên T lấy được túi xách rồi chạy ra chỗ H đang đứng chờ. Sau đó cả hai phóng xe máy bỏ chạy ra đường Nguyễn Văn Cừ. Khi đi đến khu vực đường chân đê Nguyễn Khoái, H và T dừng xe kiểm tra túi xách cướp được của chị Uyên có 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng, số tiền 4.000.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân. Các bị can lấy tiền và điện thoại, còn túi xách bên trong có giấy tờ tùy thân H và T đã vứt bỏ xuống sông Hồng. Số tiền 4.000.000 đồng, H và T chia nhau mỗi người một nửa, cả hai đã tiêu sài hết. Còn điện thoại Iphone 7 Plus, H thống nhất với T do trước đó T còn nợ của H 1.000.000 đồng nên điện thoại cướp được lần này khi bán đi H sẽ trừ vào số tiền đã nợ trước đó, không phải đưa cho T nữa. H đã mang điện thoại Iphone 7Plus về nói với bạn gái là Võ Hoàng An (SN: 2004, HKTT: Số 12 ngõ 181 Trường Chinh, phường Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội) là nhặt được chiếc điện thoại trên, sau đó H cùng An đưa điện thoại cho anh Đỗ Văn Đức là chủ cửa hàng điện thoại Đức Huy Mobile phá mật khẩu Icloud nhưng không được. Anh Đức trả giá 2.000.000 đồng, H và An đã đổi điện thoại Iphone 7 Plus trên lấy 02 chiếc điện thoại Iphone 6 của anh Đức rồi chia nhau sử dụng.

Đến ngày 07/8/2020, anh Đỗ Văn Đức phá được mật khẩu Icloud của điện thoại Ipone 7 Plus và bán lại cho anh Nguyễn Công Giáp với giá 5.200.000 đồng. Sau đó, anh Giáp đã bán chiếc điện thoại này cho chị Nguyễn Thị Trung với giá 6.300.000 đồng. Hiện tại, chị Trung đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại trên cho cơ quan điều tra.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 14 ngày 08/01/2021 của Hội động định giá trong tố tụng hình sự quận Long Biên kết luận:

+ 01 túi xách nhãn hiệu Furla màu hồng trị giá: 700.000 đồng.

+ 01 điện thoại Iphone 7Plus 128Gb trị giá 4.000.000 đồng.

+ 01 sim trị giá: 0 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là: 8.700.000đ ( Tám triệu bảy trăm nghìn đồng)

Tại cơ quan điều tra, ban đầu các bị can Ngô Thanh H, Đỗ Đức T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên. Quá trình điều tra, các bị can thay đổi lời khai với nội dung: H và T không rủ nhau đi cướp tài sản, không thực hiện hành vi tác động vào xe máy của chị Uyên làm chị Uyên ngã và không đe dọa chị Uyên bằng lời nói. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai ban đầu của các bị can Ngô Thanh H và Đỗ Đức T thấy hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với diễn biến và kết quả thực nghiệm điều tra, phù hợp với dấu vết để lại trên xe máy của chị Uyên và các tài liệu điều tra thu thập được đủ cơ sở để kết luận việc các bị can thay đổi lời khai như trên là không có căn cứ.

Đối với Võ Hoàng An, Đỗ Văn Đức, Nguyễn Công Giáp, Nguyễn Thị Trung tài liệu điều tra thể hiện không biết về hành vi phạm tội cũng như nguồn gốc của chiếc điện thoại mà họ đã mua, bán, sử dụng nên không đặt vấn đề xem xét, xử lý.

Đối với số tiền chị Nguyễn Thị Trung đã bỏ ra để mua chiếc điện thoại Iphone 7Plus sau đó giao nộp lại cho Cơ quan điều tra, chị Trung không yêu cầu bồi thường.

Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Honda Dream, Ngô Thanh H sử dụng chở T đi cướp tài sản ngày 05/8/2020, H khai mua lại của một người không quen biết, khi mua xe có đầy đủ giấy tờ. Về biển kiểm soát của xe, do H đã tháo ra từ lâu nên không nhớ xe mang biển kiểm soát bao nhiêu. Sau khi phạm tội, H đã mang xe đến một bãi đất trống (H khai không nhớ địa chỉ cụ thể), tự đốt xe cùng giấy tờ nhằm trốn tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng do đó Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Khi bị cướp tài sản và ngã, chị Uyên bị thương tích chấn thương khung chậu, gãy ngành ngồi mu phải, phải điều trị tại Bệnh viện Việt Đức. Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên đã ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích đối với chị Uyên nhưng chị từ chối không đi giám định. Đối với chiếc điện thoại Iphone 7Plus, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lí vật chứng, trả lại cho chị Vũ Lê Uyên, chị đã nhận lại tài sản. Chị Uyên không yêu cầu bị can T, H phải bồi thường thương tích và bồi thường thiệt hại đối với số tài sản chưa thu hồi được và đề nghị xử lý các bị can theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 27/04/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố các bị cáo Đỗ Đức T và Ngô Thanh H về hành vi “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự

Tại phiên toà:

- Bị cáo Đỗ Đức T và Ngô Thanh H thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng và không kêu oan, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại là chị Vũ Lê Uyên vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Uyên có ý kiến đề nghị HĐXX xét xử các bị cáo theo quy định của pháp luật. Chị Uyên đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc điện thoại Iphone 7 plus, đối với chiếc túi xách và số tiền 4.000.000 đồng chị Uyên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Uyên theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Công Giáp và chị Nguyễn Thị Trung đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đỗ Văn Đức vắng mặt không có lý do. Tại Cơ quan điều tra, anh Đức, anh Giáp và chị Trung đều có ý kiến không đề nghị giải quyết về dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Đức, Giáp và chị Trung theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân quận Long Biên duy trì công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đề nghị như sau:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 47 Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo T áp dụng thêm Điều 56 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo H áp dụng thêm khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt Đỗ Đức T mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, cộng với 18 tháng tù của Bản án số 229/2020/HSST ngày 30/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho 02 bản án từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù

Xử phạt Ngô Thanh H mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù

* Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho các bị cáo

* Về trách nhiệm dân sự: Chị Uyên đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc điện thoại Iphone 7 plus, đối với chiếc túi xách và số tiền 4.000.000 đồng chị Uyên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường do đó không xem xét.

Buộc bị cáo T phải truy nộp số tiền thu lời bất chính là 2.000.000 đồng

Buộc bị cáo H phải truy nộp số tiền thu lời bất chính là 2.500.000 đồng

Anh Đức, anh Giáp và chị Trung đều có ý kiến không đề nghị giải quyết về dân sự do đó không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT- Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo Đỗ Đức T và Ngô Thanh H tại phiên toà hôm nay cơ bản phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, Đơn trình báo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, sơ đồ hiện trường, Biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản nhận dạng cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên.

Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 0 giờ 40’ ngày 05/08/2020, lợi dụng đêm khuya vắng người, bị cáo Đỗ Đức T và Ngô Thanh H dùng xe máy làm phương tiện gây án đi theo chị Vũ Lê Uyên, đến đoạn đường đối diện Tòa chung cư Homeland, tổ 6 phường Thượng Thanh, quận Long Biên, TP. Hà Nội, bị H đi xe lên áp sát chị Uyên, bị cáo T dùng hai tay giật túi xách của chị Uyên, một trong hai bị cáo đã dùng chân đạp vào thân xe máy bên trái của chị Uyên, dùng lời nói đe dọa làm chị Uyên sợ hãi không dám phản kháng, các bị cáo đã chiếm đoạt của chị Uyên 01 túi xách, 01 điện thoại Iphone 7 plus và số tiền 4.000.000 đồng. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Long Biên kết luận: 01 túi xách nhãn hiệu Furla màu hồng có trị giá 700.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 7 plus 128GB có trị giá 4.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 8.700.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Đỗ Đức T và Ngô Thanh H đã cấu thành tội “Cướp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Đỗ Đức T và Ngô Thanh H với tội danh “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản, sức khoẻ, tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án có đồng phạm nhưng chỉ mang tính chất giản đơn, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều quanh co, không bị cáo nào thừa nhận khởi xướng việc đi cướp tài sản do đó chỉ có cơ sở xác định các bị cáo cùng rủ nhau thực hiện hành vi cướp tài sản. Bị cáo T là kẻ trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo H dùng xe máy chở bị cáo T nên đóng vai trò người giúp sức. Tại phiên tòa các bị cáo đều không thừa nhận dùng chân đạp vào thân xe và dùng lời nói đe dọa chị Uyên. Tuy nhiên căn cứ vào lời khai của bị hại, biên bản thực nghiệm điều tra, dấu vết trên xe máy của chị Uyên đều có cơ sở khẳng định các bị cáo đã dùng chân đạp vào thân xe máy bên trái của chị Uyên làm xe đổ về phía bên phải, bị cáo T dùng lời nói đe dọa làm chị Uyên sợ hãi, không dám phản kháng do đó vai trò của bị cáo T cao hơn và có mức hình phạt cao hơn bị cáo H.

Xét nhân thân bị cáo Đỗ Đức T có 01 tiền án: Bản án số 229/2020/HSST ngày 30/12/2020, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy không xác định tái phạm nhưng chứng tỏ bị cáo T có nhân thân xấu và cần phải tổng hợp hình phạt của bản án này theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Ngô Thanh H nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, khi phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 09 tháng 13 ngày nên khả năng nhận thức còn hạn chế do đó bị cáo H được áp dụng tình tiết được quy định tại khoản 6 Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên cần phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và đấu tranh phòng ngừa chung.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên toà, các bị cáo chưa thực sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tuy nhiên các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội do đó Hội đồng xét xử xét thấy nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

* Hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định do đó Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với các bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Chị Uyên đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc điện thoại Iphone 7 plus, không yêu cầu các bị cáo pH bồi thường giá trị chiếc túi xách và số tiền 4.000.000 đồng. Tuy nhiên cần buộc bị cáo T, bị cáo H mỗi bị cáo pH truy nộp số tiền thu lời bất chính là 2.000.000 đồng.

Sau khi chiếm đoạt được tài sản của chị Uyên, bị cáo T và H thống nhất để H được sử dụng chiếc điện thoại Iphone 7 plus, H đã đem đổi cho anh Đỗ Văn Đức được 02 chiếc điện thoại Iphone 6, sau đó 01 chiếc điện thoại bị hỏng nên H đã vứt đi, còn 01 chiếc điện thoại H bán lại cho người không quen biết được 500.000 đồng, do đó cần buộc bị cáo H phải truy nộp số tiền thu lời bất chính này. Tổng số tiền bị cáo H phải truy nộp số tiền thu lời bất chính là 2.500.000 đồng.

Anh Đức, anh Giáp và chị Trung đều có ý kiến không đề nghị giải quyết về dân sự do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, về trách nhiệm dân sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, (Đối với bị cáo T áp dụng thêm Điều 56 Bộ luật hình sự; đối với bị cáo H áp dụng khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự)

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đức T và Ngô Thanh H phạm tội: “Cướp tài sản”.

“Xử phạt Đỗ Đức T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù cộng với 18 (mười tám) tháng tù của Bản án số 229/2020/HSST ngày 30/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội. Buộc bị cáo T pH chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án là 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/09/2020.

“Xử phạt Ngô Thanh H 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2020

* Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho các bị cáo

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

* Về trách nhiệm dân sự: Chị Vũ Lê Uyên đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là là chiếc điện thoại Iphone 7 plus, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường giá trị chiếc túi xách và số tiền 4.000.000 đồng do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Đỗ Văn Đức, anh Nguyễn Công Giáp và chị Nguyễn Thị Trung đều không đề nghị giải quyết về dân sự do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Buộc bị cáo Đỗ Đức T phải truy nộp số tiền thu lời bất chính là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)

Buộc bị cáo Ngô Thanh H phải truy nộp số tiền thu lời bất chính là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng)

* Về án phí: Bị cáo Đỗ Đức T và Ngô Thanh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại là chị Vũ Lê Uyên, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Văn Đức, anh Nguyễn Công Giáp và chị Nguyễn Thị Trung đều vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ