vanban.org

Bản án 115/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 19/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công Thái S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công Thái S 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 11 năm 2021. Buộc bị cáo Nguyễn Công Thái S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công Thái S bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản". - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công Thái S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2021/HS-ST
Ngày: 19-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Nhớ và bà Trần Lê Bích Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 101/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Công Thái S - sinh năm: 1997 tại tỉnh Q; nơi ĐKNKTT: Phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: Đường N, phường C, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công D (s) và bà Phạm Thị M (s); vợ con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09 tháng 11 năm 2021, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị N - sinh năm: 1964; nơi cư trú: Đường D, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Tấn D - sinh năm: 1974; Đường D, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

+ Bà Phạm Thị M – sinh năm: 1969; nơi cư trú: Đường N, phường C, quận H, thành phố Đà Nẵng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17 tháng 5 năm 2021, Nguyễn Công Thái S điều khiển xe môtô hiệu Sundar, biển kiểm soát: 43S9-…. đi qua trước số nhà … đường D, phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát hiện xe môtô hiệu Honda Air Blade màu đỏ, biển kiếm soát: 43D1-853… của bà Nguyễn Thị N có sẵn chìa khóa để trên yên xe, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. Lúc này, S dựng xe môtô hiệu Sundar bên lề đường, rồi đi đến lấy và bật chìa khóa, nổ máy điều khiển xe môtô của bà N chạy hướng Dũng Sĩ Thanh Khê – Điện Biên Phủ được khoảng 20 mét thì dừng lại rồi đi bộ đến lấy xe môtô hiệu Sundar nói trên điều khiển đi. Cứ như vậy, S luân phiên di chuyển cả hai chiếc xe môtô về đến nơi ở của S tại Đường N, phường C, quận H, thành phố Đà Nẵng để cất giấu. Sau đó, S sử dụng chiếc xe trộm cắp được làm phương tiện đi lại. Đến 09 giờ 30 phút ngày 01 tháng 6 năm 2021, S điều khiển xe môtô trộm cắp được nói trên đi trên đường D, thành phố Đà Nẵng thì bị bà N phát hiện chặn đầu xe và tri hô, người dân bắt giữ đưa về trụ sở Công an phường T làm việc. Tại đây, S đã khai nhận hành vi như đã nêu trên.

Vật chứng tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ, biển kiếm soát: 43D1-853….

Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 10 tháng 6 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định giá trị chiếc xe môtô hiệu Honda Air Blade màu đỏ, biển kiếm soát: 43D1-853… là 15.600.000đ (mười lăm triệu sáu trăm nghìn đồng).

Qua điều tra xác định được người đứng tên chủ sở hữu xe môtô hiệu Honda Air Blade màu đỏ, biển kiểm soát: 43D1-853… là ông Nguyễn Tấn D (em ruột của bà N). Tại thời điểm mua xe, bà N nhờ ông D đứng tên chủ sở hữu, sau đó giao xe cho bà N sử dụng. Ngày 07 tháng 6 năm 2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đã trả lại chiếc xe trên cho ông D.

Đối với xe môtô hiệu Sundar, biển kiếm soát: 43S9-…. mà Nguyễn Công Thái S điều khiển khi đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Qua điều tra xác định, chiếc xe này đứng tên chủ sở hữu là ông Trần E (sinh năm: 1969, trú: đường S, quận C, thành phố Đà Nẵng). Sau khi sử dụng được một thời gian, ông E cho lại chiếc xe cho bà Phạm Thị M (là họ hàng với ông E và là mẹ của S). Ngày 17 tháng 5 năm 2021, S mượn chiếc xe trên từ bà M để làm phương tiện đi lại, sau đó về nhà trả chiếc xe lại cho bà M. Bà M cũng như ông E không biết việc S sử dụng xe đi trộm cắp tài sản nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê không thu hồi chiếc xe cũng như không đề cập xử lý.

Từ những nội dung trên, tại Cáo trạng số: 107/CT-VKS-TK ngày 07 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Công Thái S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị:

+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công Thái S phạm tội "Trộm cắp tài sản".

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù.

+ Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu, người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Viện kiểm sát không đề cập đến.

+ Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý trả lại cho chủ sở hữu nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Công Thái S thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng với nội dung Cáo trạng đã truy tố bị cáo. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Công Thái S tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 11h30’ ngày 17 tháng 5 năm 2021 tại đường D, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng, lợi dụng sự sơ hở của bà Nguyễn Thị N trong việc quản lý tài sản, Nguyễn Công Thái S đã lén lút dắt lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ, biển kiểm soát: 43D1-853… về nhà để sử dụng. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 15.600.000đ (mười lăm triệu sáu trăm nghìn đồng). Đến khoảng 09h30’ ngày 01 tháng 6 năm 2021, khi bị cáo S đang điều khiển xe mô tô trộm cắp trên đường D thì bị bà N phát hiện tri hô nên người dân bắt giữ đưa về trụ sở Công an phường T, quận K.

Hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Công Thái S đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số: 107/CT-VKS-TK ngày 07 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết nhưng vì sự tham lam của bản thân mà bất chấp, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội vào ban ngày; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không che dấu tội phạm, mà trực tiếp sử dụng tài sản trộm cắp đi qua lại địa điểm nơi đã thực hiện hành vi trộm cắp. Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành đưa vụ án ra xét xử vào ngày 29 tháng 10 năm 2021 nhưng bị cáo không tham gia phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án, gây cản trở cho việc giải quyết vụ án. Điều này thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Xét thấy đối với bị cáo cần phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm hiệu quả.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị N không yêu cầu bị cáo bồi thường, Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trong giai đoạn điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho chủ sở hữu là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Trong vụ án này, bà Phạm Thị M có giao xe mô tô nhãn hiệu Sundar, biển kiểm soát: 43S9-…. cho bị cáo sử dụng nhưng không biết bị cáo điều khiển xe mô tô này đi trộm cắp tài sản. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tiến hành xử lý bà M là phù hợp.

Trong giai đoạn điều tra và truy tố, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng. Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Như vậy, hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công Thái S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công Thái S 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 11 năm 2021.

- Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Công Thái S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 19/11/2021). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ