- Tranh chấp gì? án hình sự — "LE HUU S - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Hữu S 100.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2021/HS-ST Ngày 26-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Hồng Trang;
2. Bà Trần Thị Bạch Tuyết.
-Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Diên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Hữu S, sinh năm 1991 tại tỉnh N; nơi cư trú: Số A, khu phố B, phường H, thành phố H, tỉnh N; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V và bà Phạm Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/6/2021 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 31/5/2021, Lê Hữu S được một người bạn quen biết trước đây tên T không rõ địa chỉ tại thành phố M điện thoại thuê S vận chuyển thuốc lá điếu từ xã L, huyện B, tỉnh N về thành phố Hồ Chí Minh với giá 1.000.000 đồng thì S nhận lời. Sau đó, S thuê xe ô tô, biển số 51F-376.05 của chị Huỳnh Thị Mộng T, sinh năm 1982, ngụ: Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 750.000 đồng/ngày điều khiển xe lên khu vực xã L, huyện B, tỉnh N để nhận thuốc lá điếu không rõ nguồn gốc đưa về Thành phố Hồ Chí Minh như đã thỏa thuận. Đến 02 giờ 45 phút, ngày 01/6/2021, sau khi nhận thuốc lá điếu bằng hình thức liên lạc qua điện thoại với người đàn ông không rõ họ tên địa chỉ, người này dẫn S đến khu vực gần khu dân cư (S không xác định được) để nhận thuốc lá. Khi đang trên đường vận chuyển thuốc lá về Thành phố Hồ Chí Minh, đến khu vực ấp T, xã B, huyện B, tỉnh N thì bị Công an huyện B, tỉnh N bắt quả tang cùng tang vật gồm 2.020 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet, 400 bao thuốc lá điếu hiệu Herô và một số vật chứng khác. Riêng điện thoại mà S dùng để liên lạc với T là dùng sim khuyến mãi và đã bị rớt mất khi S đang trên đường đi nhận thuốc lá, không biết rớt khi nào và ở đâu.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Hữu S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Kết quả thu giữ, xử lý vật chứng:
- Vật chứng thu giữ:
+ 01 xe ô tô màu trắng, loại Camry, biển số 51F-376.05;
+ 202 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet; 40 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero.
+ 01 điện thoại Sony màu trắng, số Imel: 355069115291864/06;
+ 01 điện thoại Samsung màu xanh tím, số Imel: 351662/611289452/9.
+ 01 giấy kiểm định xe số: 6662429; 01 bảo hiểm xe số:0198873; 01 giấy phép lái xe hạng C tên Lê Hữu S, số: 750148019353.
- Kết quả xử lý vật chứng:
+ Tại Quyết định xử lý vật chứng số 28/QĐ-ĐCSMT ngày 04/10/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 04/10/2021 đã trả lại:
01 giấy kiểm định xe số: 6662429; 01 bảo hiểm xe số: 0198873 và 01 xe ô tô màu trắng, loại Camry, biển số 51F-376.05 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Huỳnh Hữu C, sinh năm 1950 và bà Trương Thị Lệ H, sinh năm 1953; cùng trú tại: Số D, Phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là cha mẹ ruột của anh Huỳnh Hữu Thanh N, sinh năm 1994; trú tại: Số D, Phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
01 điện thoại Samsung màu xanh tím, số Imel: 351662/611289452/9 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 2001; cư trú tại: ấp T, xã B, huyện B, tỉnh N.
+ Tại Quyết định xử lý vật chứng số 35a/QĐ-CSKT ngày 04/6/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên và Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 04/6/2021 đã trả lại 01 giấy phép lái xe C tên Lê Hữu S, số: 750148019353 cho Lê Hữu S.
- Vật chứng còn tạm giữ: 202 cây (2.020 bao) thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet; 40 cây (400 bao) thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero; 01 điện thoại Sony màu trắng, số Imel: 355069115291864/06.
* Kê biên tài sản: bị cáo Lê Hữu S không có tài sản riêng nên Cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện Tân Biên không tiến hành kê biên.
Bản Cáo trạng số 105/CT-VKSTB, ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Lê Hữu S về tội “Vận chuyển hàng cấm”theo điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Hữu S phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” và đề nghị:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lê Hữu S từ 100.000.000 (một trăm triệu) đồng đến 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Hữu S.
Đề nghị căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Hữu S thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: bị cáo Lê Hữu S xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: vào lúc 02 giờ 45 phút, ngày 01/6/2021, tại ấp Thạnh Thọ, xã Thạnh Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Lê Hữu S đang vận chuyển thuê 2.420 bao thuốc lá điếu nhập lậu, không rõ nguồn gốc gồm 2.020 bao thuốc lá điếu hiệu Jet và 400 bao thuốc lá hiệu Hero với tiền công là 1.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Lê Hữu S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” với tình tiết định tội “Thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Bản cáo trạng số 105/CT-VKSTB ngày 18/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố với bị cáo Lê Hữu S và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo Lê Hữu S đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, chế độ độc quyền trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm trong đó có thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra.
Khi quyết định hình phạt, cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
5.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
5.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Lê Hữu S phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hình phạt chính: Xét thấy, bị cáo Lê Hữu S có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích kinh tế. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ sức giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo Lê Hữu S đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người tên T thuê bị cáo Lê Hữu S vận chuyển thuốc lá điếu do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa làm việc; khi nào xác định được, có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Xử lý vật chứng:
- 2.020 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet và 400 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero là vật chứng của vụ án và là hàng cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại Sony màu trắng, số Imel: 355069115291864/06 của bị cáo Lê Hữu S liên quan đến việc phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: bị cáo Lê Hữu S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Hữu S 100.000.000 (một trăm triệu) đồng về tội “Vận chuyển hàng cấm” để sung vào ngân sách nhà nước.
2. Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 2.020 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet và 400 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero;
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Sony màu trắng, số Imel: 355069115291864/06 của bị cáo Lê Hữu S.
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/11/2021).
3. Về án phí: căn cứ các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Lê Hữu S phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo Lê Hữu S được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP. HCM; - PKTNV- TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Biên; - Cơ quan THAHS; - Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Biên; - Chi cục THADS huyện Tân Biên; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh TN; - Phòng PV 06 Công an tỉnh TN; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Thúy |