vanban.org

Bản án 115/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Đỗ Đình T ph m tội: Trộm cắp tài sản.

Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử ph t: Đỗ Đình T 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (13/7/2019). Vật chứng: Áp d ng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự. Ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Do Dinh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Đỗ Đình T ph m tội: Trộm cắp tài sản.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 115/2019/HSST
Ngày: 16/10/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Viễn; ông Lò Văn Thôn.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng, thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019, t i Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 105/2019/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định xét xử số 102/HSST-QĐ ngày 30 tháng 09 năm 2019, đối với bị cáo sau đây:

Họ và tên: Đỗ Đình T, sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT: Bản Ti, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Chức v , đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Đỗ Đình T (đã chết); còn bà: Đỗ Thị H; vợ là: Ph m Thị S, có 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 07/11/2018 bị xử ph t hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Nhân thân: Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xử ph t 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; t m giữ, t m giam từ 13/7/2019 cho đến nay. Có mặt t i phiên toà.

Người bị hại: Anh Lường Văn T, sinh năm 1992. Trú t i: Bản N, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án, thì nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa năm 2018, Đỗ Đình T có quen biết với Lường Văn N bản N, xã N, Sông Mã do cùng đi làm thợ xây với nhau và thường xuyên đến nhà N chơi. Khoảng 09h ngày 01/7/2019 T điều khiển xe mô tô đến nhà N để bảo N đi làm thợ xây cho T thì gặp mẹ N là bà Tòng Thị Y cùng một cháu nhỏ đang nhà, T hỏi thì biết N đang đi làm ruộng cách nhà khoảng 100m, T bảo bà Y đi gọi N về còn T đi vào trong nhà ngồi bàn uống nước. Trong lúc chờ N, T nhìn thấy trên bàn uống nước có để chiếc điện tho i màn hình cảm ứng hiệu SAMSUNG Galaxy M20 màu đen có ốp lưng màu trắng (điện tho i của anh Lường Văn T em trai Nguyên), T nhìn xung quanh thấy không có người nên nảy sinh ý định lấy trộm điện tho i mang bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. T cầm chiếc điện tho i lên để m màn hình nhưng không m được vì có mật khẩu thì nhìn thấy N đi về, T cho chiếc điện tho i vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc. Do người dính bùn đất nên N không vào nhà mà đứng cửa nói chuyện với T và hẹn sáng hôm sau sẽ đi làm cho T, sau đó N tiếp t c ra ruộng làm còn T điều khiển xe mô tô mang theo chiếc điện tho i đi đến cửa hàng điện tho i của anh Nguyễn Duy N bản Tr i G, xã N, Sông Mã hỏi cắm chiếc điện tho i, nhưng anh N nói không cho cắm mà chỉ mua thôi nên T đồng ý bán với giá 2.000.000VNĐ, anh N nhất trí rồi xem điện tho i nhưng do cài mật khẩu không m được, anh N đưa l i cho T để m mật khẩu nhưng T cũng không m được cùng lúc này thì tổ công tác Công an huyện Sông Mã đang làm nhiệm v khu vực bản T, xã N thấy T có biểu hiện nghi vấn tiêu th tài sản ph m pháp nên đã vào quán anh N hỏi nguồn gốc chiếc điện tho i và T đã khai nhận hành vi trộm cắp chiếc điện tho i của mình, tổ công tác đã bập biên bản sự việc t m giữ vật chứng là 01 chiếc điện tho i SAMSUNG Galaxy M20 cùng 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS 26H9 - 6143.

Ngày 02/7/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản trong tố t ng hình sự đối với: 01 điện tho i di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy M20 màu xám, 01 ốp lưng điện tho i bằng nhựa màu xanh – đen.

T i Kết luận định giá tài sản số 53 ngày 10/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy M20 màu xám, giá trị 4.304.000 đồng; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu xanh – đen, giá trị 40.000 đồng. Tổng giá trị: 4.344.000 đồng.

Đối với chiếc điện tho i nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy M20 quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Lường Văn T mua tháng 5/2019 với giá 4.800.000VNĐ nên ngày 12/7/2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã trả cho chủ s hữu.

Về dân sự: Anh Lường Văn T đã nhận l i tài sản nên không có đề nghị, yêu cầu gì thêm.

Cáo tr ng số 106/CT-VKSSM ngày 06 tháng 9 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố Đỗ Đình T về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên Đỗ Đình T ph m tội Trộm cắp tài sản. Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Ph t tù 06 đến 09 tháng tháng tù. Về dân sự không đặt ra.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra t i phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên toà, trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, bị h i cùng các chứng cứ khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới; lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh của bản cáo tr ng; lời khai của bị cáo cũng phù hợp lời khai của người bị h i, vật chứng bị thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án.

Bị cáo đã lén lút chiếm đo t tài sản của người khác, tài sản bị cáo chiếm đo t có giá trị (theo kết luận định giá là 4.344.000 đồng). Như vậy, có cơ s để kết luận: Đỗ Đình T đã ph m tội Trộm cắp tài sản, tội ph m và hình ph t được quy định t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố của Viện Kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm h i quyền s hữu tài sản của người khác. Gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, gây bức xúc tình hình địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc nhằm răn đe, cải t o, giáo d c và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, t i hồ sơ thể hiện đang là người mắc nghiện ma túy. Do đó, cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm có thời gian cho bị cáo cai bỏ ma túy.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; có tình tiết giảm nhẹ là t i cơ quan Điều tra và t i phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo sẽ được hư ng một tình tiết giảm nhẹ được quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét đề xuất mức án của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA BKS 26H9 – 6143 thu giữ của bị cáo, xác định là tài sản chung của gia đình. Ngày 22/8/2019 Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã đã trả l i cho vợ bị cáo là Ph m Thị S quản lý, sử d ng là phù hợp, cần chấp nhận.

Về dân sự: Bị h i đã lấy l i được tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Chấp nhận việc cơ quan Điều tra đã trả l i chiếc điện tho i di động cho chủ s hữu là anh Lường Văn T.

Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành hình ph t bổ sung nên miễn ph t bổ sung cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Đỗ Đình T ph m tội: Trộm cắp tài sản.

1. Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử ph t: Đỗ Đình T 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (13/7/2019).

2. Vật chứng: Áp d ng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự. Chấp nhận việc cơ quan Điều tra đã trả l i tài sản cho chủ s hữu hợp pháp.

3. Về dân sự: Không đặt ra.

4. Án phí: Áp d ng Điều 135 Bộ luật Tố t ng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Bị cáo; người bị h i có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ